Thứ ba, tháng mười một 28, 2006

12. NGUYEN VAN TUONG (1824 - 1886) -- THO -- VAI NET VE CON NGUOI, TAM HON & TU TUONG / Tệp 12

PHẦN THỨ TƯ:

CÁC PHỤ LỤC




KÌ VĨ PHỤ CHÁNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 - 1886)
THI TẬP


NGUYÊN TÁC CHỮ HÁN



Tập thơ nguyên tác chữ Hán này, vốn có nhan đề là KÌ VĨ QUẬN CÔNG NGUYỄN VĂN TƯỜNG THI TẬP.
Chúng tôi ghi số trang phần nguyên tác sau đây bằng chữ số a-ra-bi (Arabia), nhưng xin đọc theo cách của sách chữ Hán, từ phải sang trái.
Để tiện tra cứu, đối chiếu, chúng tôi có đánh số thứ tự a-ra-bi trên mỗi đầu bài.
Thi tập gồm bốn mươi hai (42) trang chữ Hán chép tay.
TXA.

Xem phần NGUYÊN TÁC THO CHỮ HÁN tại:


  • http://www.tranxuanan-writer-3.blogspot.com



  • http://www.tranxuanan-writer-4.blogspot.com






  • Ảnh:
    Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường
    những ngày cuối đời trên giường bệnh
    ở xứ đảo lưu đày (Papeete, Tahiti), 1886.
    (Ảnh: BAVH. [1923], tập X, sđd., tr. 485).




    PHẦN THỨ NĂM:

    CUỐI SÁCH




    DANH MỤC SÁCH THAM KHẢO
    [bảng A]


    BẢNG KÊ RIÊNG CÁC SÁCH CÓ TRÍCH DẪN, ĐỐI CHIẾU TRỰC TIẾP Ở CÁC CHÚ THÍCH, VỚI CÁC ĐẦU ĐỀ ĐƯỢC VIẾT TẮT
    (theo thứ tự chữ cái âm đơn) (*)



    1. Bản sắc văn hóa Việt Nam (Phan Ngọc), Nxb. VHTT., 1998: BSVH. VN.

    2. Bùi Viện với cuộc duy tân của triều Tự Đức (Phan Trần Chúc), Nxb. Đại La, Hà Nội, cuối 1945; Nxb. Kiến Thiết, đầu năm 1946; Nxb. Văn hoá Thông tin, tái bản năm 2000: BV.VCDT. CTTĐ.

    3. Châu bản triều Tự Đức (1847 – 1883) (Quốc sử quán triều Nguyễn, Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch (lược thuật), Ban Văn học thuộc Viện KHXH. TP. HCM. in ronéo, 1979; Trung tâm Nghiên cứu Quốc học chỉnh lí, Nxb. Văn Học, 5.2003: CB. TTĐ.

    4. Chống xâm lăng (Trần Văn Giàu), Nxb. Tp. HCM tái bản, 2001: CXL.

    5. Chuyện các quan triều Nguyễn (Nguyễn Đắc Xuân), Nxb. Thuận Hoá, 1999 (?): CCQTN.

    6. Chuyện triều Nguyễn (Bửu Kế), Nxb. Thuận Hóa, 1990: CTN. (**)

    7. Cơ sở văn hóa Việt Nam (Trần Ngọc Thêm), Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM. xuất bản, 1995: CSVHVN.

    8. Đại Nam liệt truyện, tiền biên và chính biên, (Quốc sử quán triều Nguyễn), bản dịch Viện Sử học, 4 tập, Nxb. Thuận Hóa, 1993: ĐNLT.

    9. Đại Nam nhất thống chí (QSQTN.), Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, 5 tập, Nxb. Thuận Hóa, 1992: ĐNNTC.

    10. Đại Nam thực lục, chính biên (QSQTN.), tập 11 (xb. 1964), tập 23 (xb. 1970), tập 24 (xb. 1971); đệ tứ, đệ ngũ, đệ lục kỉ (tập 27 – 38, soạn, khắc in nguyên tác dưới thời Thành Thái, Duy Tân), Viện Sử học dịch, Nxb. KHXH., 1973 - 1978: ĐNTL. CB.

    11. Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân [Pháp] tại Việt Nam [1957 – 1914]” (Christianisme et colonialisme au Viet Nam, 1957 – 1914), (Ts. Cao Huy Thuần), luận án tiến sĩ tại Pháp (1969), bản dịch, in ronéo của Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1973; vừa được Nxb. Tôn Giáo tại Hà Nội xuất bản với bản dịch mới của Nguyên Thuận (vào tháng 02.2003), với sự thay đổi nhan đề: “Các giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1957 – 1914)” (Les missionnaires et la politique colonial française au Viet Nam, 1857 – 1914): ĐTC. & CNTDP. TVN.

    12. Đặng Đức Tuấn, tinh hoa công giáo ái quốc (Lam Giang, Võ Ngọc Nhã), sưu tầm, giới thiệu nguyên văn 2 hai sử ca: Dậu Tuất niên gian phong hỏa ký sự (DTNG. PHKS.) và Đại loạn năm Ất dậu (ĐLNAD.), Sài Gòn, 1971: ĐĐT. THCG. AQ.

    13. Hán – Việt từ điển (Thiều Chửu), Nxb. TP. HCM., 1999: HVTĐ. (**)

    14. Hán – Việt từ điển giản yếu (Đào Duy Anh), Nxb. Trường Thi, 1957: HVTĐGY. ( TĐHV. (**)

    15. Hạnh Thục ca (Nguyễn Nhược Thị [Bích]), lời tựa Trần Trọng Kim, Nxb. Tân Việt 1950 (?): HTC. (**)

    16. Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử (Trần Văn Giàu), tập I của bộ sách: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam, từ thế kỉ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, Nxb. TP. HCM, 1993: HYTPK. & STBCN...

    17. Hoàng đế An Nam (L’Empire d’Annam), (Gosselin), Perrin et Cie, Librairies – éditeurs, Paris, 1904 (chỉ có những trích đoạn được dịch; chưa có bản dịch trọn vẹn ra tiếng Việt): HĐAN. (EA.).

    18. Hương giang cố sự (Nguyễn Đắc Xuân), có bài viết theo Phan Văn Dật [thi sĩ tiền chiến, người Quảng Trị]… và theo nhiều tư liệu khác, Tủ sách Sông Hương xuất bản, 1986: HGCS.

    19. Kì Vĩ quận công Nguyễn Văn Tường thi tập (do Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển sưu tầm, giới thiệu, phiên âm, dịch [mới 45 bài]), ĐHSP. TP. HCM., tư liệu Hội nghị khoa học, 20.6.1996: KVQC. NVT. TT.

    20. Kỉ yếu Hội nghị khoa học về “Nhóm chủ chiến trong Triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường”, ĐHSP. TP. HCM., 20.6.1996: KY. HNKH. VNCC. & NVT.

    21. Lịch sử thế giới (Ban Tuyên huấn Trung ương - Vụ Huấn học), Nxb. Sách GK. Mác Lê-nin, 1975: LSTG.

    22. Lịch sử tư tưởng Việt Nam (Nguyễn Đăng Thục), Nxb. TP. HCM. tái bản, 1992: LS. TTVN.

    23. Lô Giang tiểu sử (Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại), Nguyễn Hy Xước dịch, bìa in typo, ruột in ronéo, 1961: LGTS.

    24. Nguyễn Du toàn tập (Nguyễn Du), tập I, Mai Quốc Liên và nhóm cộng tác viên biên dịch, Nxb. Văn Học, 1996: NDTT. t.1.

    25. Nguyễn Trọng Hợp, con người và sự nghiệp (Hội KHLS.VN., Hội SH. Hà Nội), Nxb. Hà Nội, 1996: NTH. CNVSN.

    26. Những khúc ngâm chọn lọc, tập I (Lương Văn Đang, Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Lộc biên soạn), Nxb. ĐH. và THCN., 1987: NKNCL.

    27. Những tư liệu mới về Nguyễn Văn Tường (Trần Viết Ngạc), [bài báo giới thiệu, phân tích, bổ sung tư liệu sưu tầm, dịch thuật của bà Nguyễn Thị Ngọc Oanh, hậu duệ của cụ Nguyễn Văn Tường, và con gái bà là Trần Nguyễn Từ Vân], bns. Xưa & Nay, số 126 (174) tháng 10. 2002: NTLM. VNVT.

    28. BAVH. (Bulletin des amis du vieux Huế), Những người bạn cố đô Huế, 1914 – 1925, 11 tập và 1 tập bản dẫn, Đặng Như Tùng, Bửu Ý, Hà Xuân Liêm, Phan Xuân Sanh, Phan Xưng, Tôn Thất Hanh, Nguyễn Vi, Lê Văn, Trần Thanh, Nhị Xuyên, Nguyễn Cửu Sà dịch, hiệu đính, biên soạn bổ sung bản dẫn, Nxb. Thuận Hóa, 1997 – 1998, 2001 – 2002: NNB. CĐH. (BAVH.).

    29. Niên biểu Việt Nam (Vụ Bảo tồn bảo tàng), in lần thứ 4, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1999: NBVN.

    30. Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (Yoshiharu Tsuboi), Nguyễn Đình Đầu và nhóm cộng tác dịch, Ban KHXH. TU. TP. HCM. xb., 1990: NĐN. ĐDVP. & TH.

    31. Quân vương (Le Prince), (Machiavel), Phan Huy Chiêm dịch, Nxb. Quảng Hoá, 1968: QV.

    32. Quốc triều chính biên toát yếu (QSQTN.), bản tiếng Việt của QSQTN., Nxb. TH., 1998: QTCBTY.

    33. Quốc triều đăng khoa lục (Cao Xuân Dục), Trúc viên Lê Mạnh Liêu dịch, TT.HL. Bộ VHGD. và TN., Sài Gòn, 1962; bản in 1974: QTĐKL.

    34. Quốc triều hương khoa lục (Cao Xuân Dục), Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Thị Lâm dịch, Cao Tự Thanh hiệu đính, Nxb. TP. HCM, 1993: QTHKL.

    35. Thập giá và lưỡi gươm (Linh mục Trần Tam Tỉnh), nguyên tác tiếng Pháp (Dieu et çésar, Nxb. Sudestasie, Paris, 1978), linh mục Vương Đình Bích dịch, Nxb. Trẻ, 1988: TG. & LG.

    36. Thi hào Nguyễn Khuyến, đời và thơ (Viện Văn học, Nguyễn Huệ Chi chủ biên), Nxb. KHXH., 1992: THNK. ĐVT.

    37. Thể dục chữa bệnh ở nhà (Senbec, Pocơrôpxki, Coockhin), Đào Duy Thư dịch, Nxb. TDTT., 1987: TD. CBƠN.

    38. Thơ Đường, nhiều người dịch, Nxb. Văn Học, 1987: TĐ.

    39. Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn, do Nguyễn Đức Vân, Hà Văn Đại, Nguyễn Văn Bách, Đinh Xuân Lâm dịch, giới thiệu, Nxb. Văn Học, 1977: TVNXÔ.

    40. Thơ văn Tự Đức (Tự Đức), 3 tập, Nxb. Thuận Hoá tái bản (theo bản Phủ QVK. đặc trách văn hoá, Sài Gòn, 1970 & 1973), 1996: TVTĐ.

    41. Trung nghĩa ca (Đoàn Trưng), 1866: TNC.

    42. Trung Quốc sử lược (Phan Khoang), in lần 3, ấn quán Hồng phát (Chợ Lớn), 1958. : TQSL.

    43. Truyện đọc, lớp 5 (Đỗ Quang Lưu, Vân Thanh tuyển chọn), Nxb. Giáo dục, tái bản lần thứ 6, 2000: T[R]Đ.

    44. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (Nguyễn Bá Thế, Nguyễn Q. Thắng), Nxb. Văn Hóa, tái bản lần thứ 5, 1999: TĐ. NVLS. VN.

    45. Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ, Hoàng Phê chủ biên), Nxb. KHXH. và TTTĐ., 1994: TĐTV.

    46. Từ điển từ ngữ tầm nguyên - cổ văn học, từ ngữ và điển tích (Bửu Kế), Nxb. Trẻ, 2000: TĐ. TNTN.

    47. Từ điển văn học (nhiều tác giả), Nxb. KHXH., tập 1 (1883), tập 2 (1884): TĐVH. (I), TĐVH. (II).

    48. Tự vị Annam – Latinh [1772 – 1773] (Pierre Pigneaux de Béhaine), Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, Nxb. Trẻ, 1999: TVAL.

    49. Việt Nam cách mạng cận sử (Phạm Văn Sơn), Sài Gòn, 1963: VN. CMCS.

    50. Việt Nam, cái nhìn địa - văn hóa (Trần Quốc Vượng), Nxb. VHDT., 1998: VN. CNĐVH.

    51. Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim), xuất bản lần thứ nhất, 1921; Nxb. Tân Việt, in lần thứ bảy, 1964; Nxb. VHTT. tái bản, 1999: VNSL.

    52. Vè chống Pháp, gồm Vè Thất thủ Thuận An và Vè Thất thủ kinh đô (Lương An chỉnh lí, chú thích, giới thiệu), Nxb. Thuận Hóa, 1983: VCP. (gồm: VTTTA. & VTTKĐ.).

    53. Việt Nam, những sự kiện lịch sử, 1858 - 1896, tập 1 (Dương Kinh Quốc), Nxb. KHXH., 1981: VN. NSKLS. I

    54. Vua Hàm Nghi (Hải Âu), Nxb. Văn Nghệ, 2000: VHN. (HÂ.).

    55. Vua Hàm Nghi (Phan Trần Chúc), Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1995: VHN. (PTC.).



    (*) Xin xem thêm danh mục sách tham khảo [bảng B].

    (**) Cuốn sách của Bửu Kế vốn có tựa đề là Nguyễn Triều cố sự; khi xuất bản, tựa đề ấy dịch ra tiếng Việt là Chuyện triều Nguyễn. Hán – Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh vốn được quen gọi là Từ điển Hán – Việt (theo kết cấu ngữ pháp tiếng Việt). Chúng tôi sẽ viết tắt là: CTN. và TĐHV., (cuốn của Thiều Chửu vẫn để nguyên: HVTĐ.). Hạnh Thục ca cũng trong trường hợp như vậy: HTC., mặc dù tựa đề đầy đủ là Loan dư hạnh Thục quốc âm ca (Bài ca tiếng Việt về việc xe loan – xe vua – đi chơi đất Thục [điển tích: loạn An Lộc Sơn thờ Đường Minh Hoàng, Trung Hoa]).


    DANH MỤC SÁCH THAM KHẢO (*a)
    [bảng B]
    (Ngoài các cuốn đã ghi ở bảng liệt kê A,
    với các tên sách viết tắt, ở vài trang trước).


    I. Sách kinh điển, lí luận chung, sách chuyên ngành...:

    1. * Trần Xuân AN, Mùa hè bên sông (Nỗi đau hậu chiến), tiểu thuyết (sắp xuất bản).

    2. * Trần Xuân AN (tuyển chọn tư liệu gốc), Những trang Đại Nam thực lục về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời kì đầu chống thực dân Pháp… (Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), chọn lọc, phần II, 2001 (sắp xuất bản).

    3. * Trần Xuân AN, Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002 (sắp xuất bản).

    4. * Trần Xuân AN, Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, hai tập I, II, 2002, hai tập III, IV, 2003 (sắp xuất bản).

    5. * Trần Xuân AN, Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001 (sắp xuất bản).

    6. Tôn Thất BÌNH, Đời sống cung đình triều Nguyễn, Nxb. Thuận Hoá, 1991.

    7. * Tôn Thất BÌNH, Kể chuyện chín chúa, mười ba vua, Nxb. Đà Nẵng, 1996.

    8. * Phan CANH – Đào Đức Chương, Thi ca Việt Nam thời Cần vương (1885 - 1900), Nxb. Văn Học, 1997.

    9. Nguyễn Duy CẦN, Lão tử tinh hoa, Nxb. TP. HCM., 1992.

    10. Nguyễn Duy CẦN, Trang tử tinh hoa, Nxb. TP. HCM., 1992.

    11. * Phan Bội CHÂU, Những tác phẩm của Phan Bội Châu, tập 1 (gồm Việt Nam vong quốc sử (*b) và Việt Nam quốc sử khảo), Chương Thâu dịch, Văn Tạo chủ biên, Hồ Song giới thiệu, Nxb. KHXH., 1982.

    12. Minh CHI, Các vấn đề Phật học, Viện nghiên cứu Phật học ấn hành, 1995.

    13. * Quỳnh CƯ – Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, Nxb. Thanh Niên, in lần thứ 2, 1995.

    14. Nguyễn Đăng DUY, Nho giáo với văn hoá Việt Nam, Nxb. Hà Nội, 1998.

    15. Trần Văn GIÀU, Hệ ý thức tư sản và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, tập II của bộ sách “Sự phát triển tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỉ XIX đến Cách mạng Tháng tám”, Nxb. KHXH., 1975.

    16. Trần Văn GIÀU, Trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam: Tư tưởng yêu nước, Nxb. Hậu Giang, 1983.

    17. Nguyễn Văn HẠNH, Suy nghĩ về văn học, Nxb. Văn Học, 1979.

    18. Nguyễn Văn HẠNH, Huỳnh Như Phương, Lí luận văn học - vấn đề và suy nghĩ, Nxb. Giáo Dục, 1998.

    19. Hoàng Lại GIANG, Nỗi đau trăm năm, tiểu thuyết lịch sử (“danh nhân”), Nxb. Văn Học, in lần 2, 1996.

    20. Lê Thị Thanh HÒA, Việc đào tạo và sử dụng quan lại của Triều đình Nguyễn, từ 1802 đến 1884, Nxb. KHXH., 1998.

    21. * Phạm Khắc HÒE, Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn, lời tựa của Gs. Phạm Huy Lê, Nxb. Thuận Hoá, 1986.

    22. Cao Xuân HUY, Tư tưởng Phương Đông, gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb. Văn Học, 1992.

    23. Trần Trọng KIM, Nho giáo, Nxb. TP. HCM., 1992.

    24. KINH Thánh, Hội Thánh Tin Lành VN., 1986.

    25. * Nguyễn Thiệu LÂU, Quốc sử tạp lục, Nxb. Mũi Cà Mau, 1994.

    26. LÃO tử Đạo đức kinh, Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch và bình chú, Nxb. Văn Học, 1991.

    27. LÊ-NIN, Bàn về văn hóa văn học, Nxb. Văn Học, 1977.

    28. * Đào Trinh NHẤT, Phan Đình Phùng, Nxb. VHTT., 1998.

    29. Vũ Dương NINH – Nguyễn Văn Hồng – Võ Mai Bạch Tuyết, Lịch sử cận đại thế giới, tập I (1886), tập II (1887), tập III (1885), Nxb. ĐH. và THCN.

    30. * QUỐC sử quán triều Nguyễn, Tự Đức thánh chế văn tam tập (quyển IX đến XIV), Bùi Tấn Niên, Trần Tuấn Khải dịch, Tủ sách cổ văn UB. DT. Phủ QVKĐTVH. xb., Sài Gòn, 1973.

    31. SỞ Văn hoá - Thông tin Quảng Trị, Non Mai sông Lĩnh, tuyển tập thơ văn, 1999.

    32. SUZUKI (Daizetz Teitaro), Thiền luận, ba tập (thượng, trung, hạ), Trúc Thiên dịch, Nxb. TP. HCM., 1992.

    33. Trần Thanh TÂM, Quan chức nhà Nguyễn, tái bản lần thứ nhất, Nxb. Thuận Hoá, 2000.

    34. Kim Thánh THÁN, Phê bình thơ Đường, Trần Trọng San biên dịch, TS. ĐHSP. TP. HCM., 1990.

    35. Phạm Phú THỨ, Nhật kí đi Tây, Quang Uyển dịch, Nxb. Đà Nẵng, 1999.

    36. Lê Ngọc TRÀ , Lí luận và văn học, Nxb. Trẻ, 1990.

    37. TRANG tử Nam Hoa kinh, 2 tập, Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch và bình chú, Nxb. Hà Nội, 1992.

    38. Nguyễn Văn TRUNG, Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, thực chất và huyền thoại, chuyên đề 1: Văn hoá và chính trị, Nxb. Nam Sơn, 1963.

    39. Nguyễn Văn TƯỜNG, Di cảo Nguyễn Văn Tường, Trần Đại Vinh dịch, Nxb.?, 1991.

    40. * VIỆN Khoa học xã hội và Trung tâm Hán - Nôm, Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân Đất Nước, Nxb. Đà Nẵng, 2000.

    41. Hồ VĨNH, Dấu tích văn hoá thời Nguyễn, Nxb. Thuận Hoá, 2000.

    42. Thái VŨ, Biến động, tiểu thuyết lịch sử, Nxb. Thuận Hoá, 1984.

    43. * Thái VŨ, Huế 1885, tiểu thuyết lịch sử, Nxb. Thuận Hoá, 1985.

    44. Nguyễn Đắc XUÂN, Chuyện các bà trong cung Nguyễn, Sở VHTT. TT – Huế, tái bản lần hai, 1991.

    45. Nguyễn Đắc XUÂN, Chuyện cũ cố đô, Hội VHNT. BTT. xb., 1987.

    46. Nguyễn Đắc XUÂN, Phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành, Nxb. Thuận Hóa, 1992.

    II. Một số bài tham luận, bài báo:

    1. * Một ít bài khảo luận sử học về phái chủ chiến thời Tự Đức trong Hội nghị khoa học do Trường Cao đẳng Sư phạm TP. HCM tổ chức, 1991.

    2. * Lê Quang THÁI, Thử nhận định lại nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886), tạp chí Cửa Việt số 13, tháng 4. 1992, tr. 80 - 84.

    3. * Y THI, Kinh đô thuở ấy bây giờ, kí sự lịch sử, tạp chí Cửa Việt, số (?), 1999, tr. 84 - 87, và số (?), 1999, tr. ?

    4. * Thái VŨ, Nguyễn Văn Tường và vai trò của ông trong cuộc chống Pháp cuối thế kỉ XIX, tạp chí Cửa Việt, số 13, tháng 4. 1992, tr. 75 - 79.

    5. * Và nhiều bài báo khác về Nguyễn Văn Tường với vùng đất Cam Lộ, chiến khu, “kinh đô” kháng chiến Tân Sở (Quảng Trị)... của các tác giả Phạm Hồng Việt, Đỗ Bang, Hồ Vĩnh, Phan Quốc Sắc, Dân Trí, Lê Quảng Sơn... trên các tờ báo tại Quảng Trị, Huế...


    Cước chú của phần Danh mục sách tham khảo [bảng B]:

    (*a) Ghi chú: Những cuốn sách, bài báo đề cập đến ông Nguyễn Văn Tường, chúng tôi có đánh dấu hoa thị * trước các chữ số thứ tự. Các cuốn không có đánh dấu như trên, thuộc loại bàn đến các vấn đề chung hoặc của giai đoạn Nguyễn Văn Tường sống, chiến đấu, hoạt động chính trị, ngoại giao, và sáng tác.

    Ở những sách, báo viết về Nguyễn Văn Tường, nhiều tác giả còn xuyên tạc, sai lầm. Những cuốn, những bài viết về tay sai mị dân như Tôn Thọ Tường, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trường Tộ, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trọng Hợp, Trương Vĩnh Ký... thì lại ca ngợi hết lời! Tuy nhiên, sách sử ghi rõ, chẳng hạn: Nguyễn Trường Tộ chỉ chống nước Pháp từ tháng 10.1870 (ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 59 - 60) và 72 ngày Công xã Paris, 1871; nhưng ngay trong thời điểm đó, vẫn muốn quan hệ với Pháp lẫn Anh (cũng sđd., số trang như trên)! Và có thể đặt câu hỏi: Nếu ai cũng tự sát khi giặc xâm lược như Phan Thanh Giản, liệu Tổ quốc Việt Nam có tồn tại đến hôm nay và trở thành một biểu tượng hào hùng của nhân loại?... Tất cả, chúng tôi đều tham khảo, và chỉ tham khảo, chứ không phải gián tiếp giới thiệu, quảng bá luận điệu của thực dân, tay sai...

    Xin được đọc những ý kiến phản hồi, không vì ý đồ bên ngoài khoa học. Trân trọng và thực sự cầu thị.

    (*b) Xin tìm đọc: Trần Xuân An, “Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002 (sắp xuất bản). Tác giả đã phê phán Lương Khải Siêu (và Phan Bội Châu) về quan niệm sử dụng sử học như một thủ đoạn tuyên truyền chủ trương chính trị của bản thân, bất chấp tính xác thực lịch sử, mà chính phan Bội Châu đã tự thú nhận: “vấn mục đích bất vấn thủ đoạn” (lời tựa cuốn "Tự phán")!


    MỘT SỐ CHỦ ĐIỂM SỬ HỌC PHÁC THẢO
    Ở CÁC CHÚ THÍCH SƠ LƯỢC
    (để tiện lưu ý khi đọc sách này)
    (*)

    A. Nguyễn Văn Tường (1824-1886)
    với nhiệm vụ lịch sử
    sau cuộc kinh đô quật khởi (05 tháng 7. 1885):

    ◘ 1. Một bối cảnh lịch sử hoàn toàn bế tắc.

    ◘ 2. Sự phân công nhiệm vụ lịch sử: “Tổ quốc, vua, dân, đâu trọng khinh?”.
    Nỗi khổ tâm, lòng trung nghĩa của Nguyễn Văn Tường qua mật dụ hàm nghi gửi về từ Tân sở (Cam Lộ, Quảng Trị).

    ◘ 3. “Lòng trung sâu kín, sau ai tỏ?”.

    3a. Đấu tranh mặt nổi và mặt chìm:

    3a1. Đấu tranh với Pháp, bọn tay sai, cơ hội.

    3a2. Đối phó với phe chủ “hoà” (Từ Dũ, Miên Định...) với phương thức “không biết gì hết”.

    3a3. Với phương thức “không biết gì hết”, nhằm phối hợp bí mật nhưng chặt chẽ với phong trào Cần vương.

    3b. Nhiệm vụ lịch sử với lập trường kiên định, thái độ chính trị “nhất dạng”. Sự ngộ nhận, xuyên tạc.

    Thực dân Pháp thao túng trong sự nhân danh triều đình. Nỗi khổ tâm của Nguyễn Văn Tường.

    3c. Thái độ chính trị “nhất dạng” với lập trường kiên định chống Pháp, không chấp nhận “bảo hộ” của Nguyễn Văn Tường qua các bản kết án của thực dân Pháp và triều đình Đồng Khánh.

    3d. Quá trình đấu tranh chống Pháp nhất quán, liên tục của Nguyễn Văn Tường ngay trong những ngày tháng bị lưu đày ở Côn Đảo, Tahiti, qua bài viết của Le Marchant de Trigon.

    ◘ 4. “Tổ quốc, vua, dân, đâu trọng khinh?”.

    4a. Nỗi khổ tâm, lòng trung nghĩa của Nguyễn Văn Tường qua thư Hàm Nghi gửi về từ Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị).

    4b. Sự dựng đứng chuyện bịa, xuyên tạc sự thực lịch sử, nhằm mục đích triệt hạ uy tín của Nguyễn Văn Tường và nhóm chủ chiến, đó là thủ đoạn tuyên truyền của thực dân Pháp, bọn tả đạo trong Thiên Chúa giáo.

    Phê phán các tư liệu: lập trường, quan điểm đánh giá; lượng thông tin. Kết luận về Nguyễn Văn Tường.

    B. Các chủ điểm khác:

    ◘ 1. Sự kiện thất thủ kinh đô, sự lan rộng chưa đều khắp của phong trào Cần vương sau đêm Kinh Đô Quật Khởi (22 - 23.5 Ất dậu, 1885). Niềm tin chiến thắng của Nguyễn Văn Tường. Chú thích (2), (3), (4), câu đối “Thượng đồ trình, cảm tác đối liên”.

    ◘ 2. Vấn đề tàn dư “Thái bình thiên quốc” biến tướng thành giặc Cờ. Thực dân Pháp (qua Jean Dupuis, Puginier) lợi dụng giặc này để gây rối Bắc Kì nước ta.

    Chú thích (2), bản dịch nghĩa bài 1;

    Chú thích (2), bản dịch nghĩa bài 4;

    Chú thích (3), bản dịch nghĩa bài 12;

    Chú thích (1), bản dịch nghĩa bài 26;

    Chú thích (3), bản dịch nghĩa bài 32 ...

    ◘ 3. Tinh thần bình đẳng nhân tộc, bình đẳng dân tộc, tấm lòng yêu mến các nhân tộc ít người trong ước lệ danh từ của thời đại.

    Chú thích (4), (5) bản dịch nghĩa bài 3.

    ◘ 4. Ông Ích Khiêm. Sự rạn nứt, phân hóa của nhóm chủ chiến trước sự gây rối ren, lũng đoạn, li gián của thực dân Pháp, thực dân tả đạo. Mối quan hệ giữa Ông Ích Khiêm, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường. Vấn đề “tiền sềnh”.

    Chú thích (6), (7) bản dịch nghĩa bài 27.

    ◘ 5. Vè “Thất thủ kinh đô”, vè “Thất thủ Thuận An”: sự mù lòa trong nhận thức chính trị, sự nhận thức chính trị bằng tư duy đơn giản, tuyến tính cứng nhắc, ấu trĩ, rơi vào âm mưu, luận điệu tuyên truyền của giặc Pháp, tả đạo thực dân.

    Bị chú (*a) bản dịch nghĩa bài số 27.

    ◘ 6. Một khía cạnh của quan niệm sống (phác thảo).

    Chú thích (5), bản dịch nghĩa bài 33.

    ◘ 7. Nguyễn Văn Tường với phe chủ “hòa” thời còn thắng thế. Sự không tin dùng và sự tiến cử vào phái bộ. Thành công, bi kịch của Nguyễn Văn Tường, khi đàm phán, kí kết “hòa” ước 1874, và với cuộc khởi nghĩa Văn thân ở Nghệ – Tĩnh. Sách lược thỏa hiệp tạm thời của Triều đình.

    Chú thích (4) bản dịch nghĩa bài 47, và bị chú (c) bản dịch nghĩa bài 42.

    ◘ 8. Hai con đường: con đường làm nô lệ cho giặc Pháp; con đường “không có gì quý hơn độc lập, tự do” trong truyền thống nghìn xưa.

    Chú thích (1), bản dịch nghĩa bài 50.

    ◘ 9. Nhân dân Nam Kì, Bắc Kì, một bộ phận không ít thật đáng buồn (dữu dân trong giáo dân; ngụy).

    Chú thích (4), bản dịch nghĩa bài 52.

    ◘ 10. Ơn mở cõi đối với các chúa Nguyễn và triều Nguyễn. Cái nhìn hạn chế, sự nhìn nhận được xem là đúng đắn của trung thần nhà Nguyễn đối với phong trào Tây Sơn.

    Chú thích (2), (8) bản dịch nghĩa bài 53.

    ◘ 11. Gốc gác, quê quán, nơi sinh trưởng của Nguyễn Văn Tường. Nhiệt tình dấn thân xây dựng căn cứ kháng chiến: chiến khu Tân Sở và đường mòn Trường Sơn (Bình Định – Nghệ An). Thái độ đối với việc xây dựng “Vạn niên cát địa”.

    Chú thích (16), bản dịch nghĩa bài 56.

    ◘ 12. Chữ “hòa” đúng nghĩa; chữ “hòa” đồng nghĩa với sự đầu hàng, nhân nhượng đau xót trước thực dân, “tả đạo”.

    Chú thích (2), bản dịch thơ bài 56.

    ◘ 13. Hùng tráng và thanh tịnh (thiền) trong tâm thức Phật giáo Việt Nam và dân tộc.

    Chú thích (7), bản dịch nghĩa bài 59.

    TRẦN XUÂN AN
    người biên soạn (nbs.)


    (*) Bi kịch “tứ nguyệt tam vương” phản ánh sự lũng đoạn, gây rối ren của thực dân Pháp. Vấn đề chữ “trung”, cổ điển và truyền trống, với sự chọn lựa sáng suốt, táo bạo.

    Vấn đề này, chúng tôi (TXA. – nbs.) đã nghiên cứu và giải quyết một cách rốt ráo hơn, đồng thời cũng đề cập đến nhiều vấn đề khác, và đưa vào cuốn “Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002 (sắp xuất bản).

    Xin vui lòng tìm đọc.

    Có thể tìm xem bài “Bi kịch ở điểm đỉnh mâu thuẫn 1883 – 1884 và sự chiến thắng của nhóm chủ chiến yêu nước”, đã được đăng tải trên tạp chí Xưa & Nay (thuộc Hội KHLS. VN.), số 118 tháng 6.2002, tr. 18 – 19, xem tiếp tr. 23 – 24.

    [BẢN ĐỒ]

    [BẢN ĐỒ]



    MỤC LỤC

    I. PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU. 6

    ◘ Thưa ngỏ

    1. Ảnh chân dung Nguyễn Văn Tường. 7 & 8

    2. Lời Nhà Xuất bản. 9

    3. Lời thưa đầu sách – Trần Xuân An (nbs.). 11

    4. Thông tin về các hội nghị, hội thảo khoa học. 22

    ◘ Nguyễn Văn Tường & chính trị. 35

    1. Nguyễn Văn Tường, qua châu bản triều Nguyễn – Nnc. Trần Viết Ngạc. 36

    2. Nguyễn Văn Tường trong biến cố tứ nguyệt tam vương – Nnc.Trần Viết Ngạc
    3. Tìm hiểu chủ trương của Nguyễn Văn Tường sau cuộc binh biến Ất dậu (1885) – Gs. Đoàn Quang Hưng. 50

    4. Nguyễn Văn Tường, trước và sau vụ biến kinh thành Huế 5. 7. 1885 – Ts. Võ Xuân Đàn. 63

    5. Nguyễn Văn Tường (1824-1886) với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi (05 tháng 7. 1885) – Trần Xuân An. 75

    ◘ Nguyễn Văn Tường & thơ ca. 137

    1. Tấc lòng yêu nước son sắt của Nguyễn Văn Tường... – Nnc. Trần Đại Vinh. 138

    2. Đọc thơ của Nguyễn Văn Tường – Nnc. Vũ Đức Sao Biển. 145

    II. PHẦN THỨ HAI: SÁNG TÁC NGOÀI THI TẬP. 157

    1. Tự trào (câu đối), nguyên tác chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, dịch theo thể loại. 158

    2. Điếu Bùi Viện (câu đối), (trình tự sắp xếp như trên). 161

    2. Giải triều... & hai câu thơ sửa chữa, bổ sung của bài “Giải triều...” (trình tự như trên). 166

    4. Thượng đồ trình, cảm tác đối liên (hai câu song thất) (nt.). 177

    5. Phụ lục: Thơ Phạm Phú Thứ, thơ Nguyễn Thượng Hiền viết về Nguyễn Văn Tường. 183 & 189

    III. PHẦN THỨ BA: THI TẬP. 184

    1. Bài 1: Sơ đáo Lạng Sơn (bản phiên âm, dịch thơ, dịch nghĩa và chú thích, bản nhuận sắc). 195

    2. Bài 2: Họa Lạng vũ Đặng “Vịnh cúc” nguyên vận (trình tự các bản như trên, trừ dăm bài VĐSB. dịch nghĩa như thơ tự do). 202

    3. Bài 3: Sư thứ Cao Bằng. 206

    4. Bài 4: Sư thứ Hà Dương. 212

    5. Bài 5: Chu hành túc Vị Xuyên. 216

    6. Bài 6: Họa Sơn phiên Vũ “Tống ngư hàm” nguyên vận. 219

    7. Bài 7: Họa Sơn Hưng Tuyên nguyên đốc Nguyễn công “Tặng hành” nguyên vận. 222

    8. Bài 8: Họa Sơn phiên Vũ “Tự đạo” nguyên vận. 228

    9. Bài 9: Tô nghịch phản qua phục vãng Lạng. 232

    10. Bài 10: Kí Cúc Viên Trương công tử. 235

    11. Bài 11: Họa Yên Dũng huyện doãn Bùi nguyên vận. 239

    12. Bài 12: Họa Thanh quốc Thái Bình phủ Từ Diên Húc nguyên vận. 244

    13. Bài 13: Ức kinh ấu nữ. 247

    14. Bài 14: Đắc báo nguyên tôn sinh. 249

    15. Bài 15: Tặng Bắc phiên Phạm Quan Thành quy tỉnh thân bệnh. 254

    16. Bài 16: Tặng Từ thủ Trương Cúc Viên phó chức. 258

    17. Bài 17: Tặng Kim tân cựu Lê, Trần nhị huyện doãn. 262

    18. Bài 18: Dạ vũ trình thống đốc Hoàng đại nhân. 266

    19. 20. 21. Ba bài 19, 20, 21: Họa nhạc ông kí phỏng tam thủ nguyên vận. 268

    19. Bài 19: Bài A. 268

    20. Bài 20: Bài B. 271

    21. Bài 21: Bài C. 275

    22. Bài 22: Cửu nguyệt ngộ húy cảm tác. 280

    23. Bài 23: Kí bang biện quân vụ Vũ. 284

    24. Bài 24: Họa tổng đốc Hoàng đại nhân “Vịnh quân trung thủy tiên” nguyên vận. 288

    25. Bài 25: Đông dạ hữu cảm. 292

    26. Bài 26: Đồ tiếp Thanh quan. 295

    27. Bài 27: Kí Sơn thứ tham tán Ông, tán lí Trần. 299

    28. Bài 28: Họa thượng biện Đặng “Lạp nguyệt khổ hàn” nguyên vận. 310

    29. Bài 29: Du Bồ San tự. 313

    30. Bài 30: Dữ thống đốc đăng kì đài hữu cảm. 308

    31. Bài 31: Họa thống đốc Hoàng đại nhân “Phú Bình đạo trung” nguyên vận. 322

    32. Bài 32: Ngẫu thành trình thị sư Nguyễn. 325

    33. Bài 33: Dạ văn ca cổ trình thị sư Nguyễn. 329

    34. Bài 34: Kí phỏng nguyên cao niết Nguyễn. 333

    35. 36. Hai bài 35, 36: Quân trung thuật hoài. 337

    35. Bài 35: Bài A. 337

    36. Bài 36: Bài B (từ bài này cho đến hết tập, trừ bài 54, chỉ có một hoặc thi thoảng có hai bản dịch thơ, đặt sau bản dịch nghĩa). 341

    37. Bài 37: Thất độ Xương Giang. 344

    38. Bài 38: Bệnh trung kí phỏng đồng chí. 347

    39. Bài 39: Văn sư thứ Hương Mang. 351

    40. 41. 42. 43. Bốn bài 40, 41, 42, 43: Họa Bình Lâm tú tài Đặng vịnh vật nhị thủ nguyên vận. 354

    40. 41. “Miếu trung ngọa mộc” nguyên vận. 354

    40. Bài 40: Bài A (chữ cỡ nhỏ trong nguyên bản). 354

    41. Bài 41: Bài B. 357

    42. 43. “Tùng thụ” nguyên vận. 359

    42. Bài 42: Bài A (chữ cỡ nhỏ trong nguyên bản). 359

    43. Bài 43: Bài B. 363

    44. Bài 44: Kí phỏng Đặng tú tài. 365

    45. Bài 45: Tặng Bắc phiên Phạm giá hồi bệnh. 367

    46. Bài 46: Thứ Sơn đốc Trần định chi nguyên đán thí bút. 370

    47. Bài 47: Họa chánh sứ Lê “Tự Đông Gia khởi hành tựu Thuận tấn hỏa thuyền” nguyên vận. 372

    48. Bài 48: Họa chánh sứ Lê “Đăng yết Thiên Y tháp tại Bình Thuận tỉnh, Cù Huân tấn” nguyên vận. 378

    49. Bài 49: Thuyền cận Cần Giờ nghịch phong bất tiến. 383

    50. Bài 50: Tặng dương quan, Gia Định tỉnh nhân, vãng Hương Cảng. 386

    51. Bài 51: Trú Gia Định quan Tây viên hữu cảm. 389

    52. Bài 52: Quá Kim Chương tự. 383

    53. Bài 53: Đề Bình Tây tướng quân Lê quận công mộ, mỗi cú hữu sổ mục tự. 388

    54. Bài 54: Tại Gia Định đắc báo tham biện Nguyễn chi tử thu tiệp. 406

    55. Bài 55: Ất hợi nguyên chính. 409

    56. Bài 56: Cung họa ngự chế “Bính tí nguyên nhật” nhị thập vận. 418

    57. 58. Hai bài 57, 58: Cung họa ngự chế thi nguyên vận “Nhuận ngũ nguyệt hộ từ giá hạnh Thuận An tấn” nhị thủ. 432

    57. Bài 57: Bài A. 432

    58. Bài 58: Bài B. 435

    59. Bài 59: Hạnh Thúy Vân sơn. 439

    60. Bài 60: Thúy Vân sơn. 446

    61. Bài 61: Tư Hiền tấn. 449

    62. Bài 62: Nguyên đán tảo, cứ Quảng Yên tuần phủ Hồ Trọng Liễn (Đỉnh) mã đệ triệp tự quan binh đạp bình Phù Long phỉ sào, nhân chí kì sự. 453

    63. Bài 63: Cung họa ngự chế “Đoan ngọ vãn phiếm chu hành hạnh Tư Hiền tấn”. 462

    64. Bài 64: Hà Trung đạo trung tác. 465

    65. Bài 65: Cung họa ngự chế “Thực ngạc ngư”. 468

    66. Bài 66: Hạ Trần Trọng Cung thất thập thọ. 478

    IV. PHẦN THỨ TƯ: PHỤ LỤC. 481

    1. Nguyên bản chữ Hán (các sáng tác ngoài Thi tập, và trọn vẹn Thi tập gồm 66 bài nguyên tác, chép tay). 482

    [Vì lí do kĩ thuật (chụp phim), tạm thời chưa đưa bản chữ Hán vào được – nbs.]

    2. Ảnh: PCĐT. Nguyễn Văn Tường những ngày cuối đời trên giường bệnh ở xứ đảo lưu đày (papeete, Tahiti), 1886 – Aønh: BAVH. 1923. 526

    V. PHẦN THỨ NĂM: CUỐI SÁCH. 527

    1. Danh mục sách tham khảo (bảng A): Bảng kê tên sách báo tham khảo, đối chiếu viết tắt. 528

    2. Danh mục sách tham khảo (bảng B): Ngoài các cuốn, các bài ở bảng A. 535

    3. Một số chủ điểm sử học phác thảo ở các chú thích sơ lược. 541

    4. Một số bản đồ. 545 & 546

    5. Mục lục. 547

    6. Vài nét về lí lịch và danh mục sách do tác giả sáng tác, nghiên cứu, biên soạn. 553

    7. Đính chính & Về một số điểm trong bản chép Thi tập nguyên tác chữ Hán. 558 & 559

    8. Đính chính bổ sung. 561




    DANH MỤC
    TÁC PHẨM (SÁNG TÁC, NGHIÊN CỨU, BIÊN KHẢO)
    CỦA TÁC GIẢ
    (tính đến 2005)


    TRẦN XUÂN AN

    sinh ngày 10. 11. 1956 tại Huế;

    dân tộc: Kinh (Việt Nam);

    quê gốc: Quảng Trị;

    tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Việt, Đại học Sư phạm Huế
    (khóa 1974 – 1978);

    dạy phổ thông trung học ở Lâm Đồng (1978 – 1983);

    hiện chuyên sáng tác, nghiên cứu tại TP. HCM.

    (hội viên Hội Nhà văn TP. HCM.)


    ● Tác phẩm đã xuất bản và đã đăng kí bản quyền tại Cục Bản quyền tác giả văn học nghệ thuật Việt Nam:

    1. Nắng và mưa, tập thơ, Hội VHNT. Quảng Trị, 1991

    2. Hát chiêu hồn mình, tập thơ, NXB. Đồng Nai, 1992

    3. Tôi vẫn ở trên đường, tập thơ, NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 1993

    4. Lặng lẽ ở phố, tập thơ, NXB. Trẻ TP. HCM., 1995

    5. Kẻ bị ném vào bão, tập thơ, NXB. Trẻ TP. HCM., 1995

    6. Hát với đời, ơi thương mến tập thơ, NXB. Trẻ TP. HCM., 1996

    7. Quê nhà yêu dấu, trường ca thơ, NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 1998

    8. Có một nơi lá mãi xanh, tiểu thuyết, NXB. Hội Nhà văn, 1999

    9. Ngôi trường tháng giêng, tiểu thuyết, NXB. Thanh Niên, 2003

    10. Sen đỏ, bài thơ hòa bình, tiểu thuyết, NXB. Thanh Niên, 2003

    11. Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện - sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ bốn tập, NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 2004

    12. Ngẫu hứng đọc thơ, phê bình thơ, 2003; NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 2005

    ● Tác phẩm đã hoàn tất bản thảo:

    13. Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, 1997; bản đã sửa chữa, bổ sung, 2001 & 2003

    14. Thơ những mùa hương, tập thơ

    15. Giọt mực, cánh đồng và vở kịch điên, tập thơ

    16. Nước mắt có vị ngọt, tập truyện ngắn liên hoàn, 1999

    ● Soạn phẩm, biên khảo đã hoàn tất bản thảo:

    17. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (biên soạn, nghiên cứu, phản bác, và tập hợp một số bản dịch, bài nghiên cứu văn học, sử học về NVT.), 2000

    18. Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp”, (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001.

    19. Những trang Đại Nam thực lục về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời kì đầu chống thực dân Pháp… (Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), chọn lọc, phần II, 2001

    20. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002

    21. Suy nghĩ về một số vấn đề trong lịch sử cổ đại nước ta, khảo luận sử học, 2003

    ● Tặng thưởng, giải thưởng:

    1. Báo Văn Nghệ giải phóng, 1975

    2. Giải sáng tạo trẻ Hội VHNT. Quảng Trị

    (*) Tất cả các tác phẩm, soạn phẩm biên khảo đã được xếp chữ vi tính, ấn hành trong phạm vi từ 10 đến 20 bản sách (gửi các nhà xuất bản, các nhà nghiên cứu, những người bà con và một số bạn thân), trong khi chờ giấy phép và điều kiện để có thể xuất bản rộng rãi. TXA.




    TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
    TỪNG CHỮ, TỪNG Ý TƯỞNG CỦA MÌNH.
    TRÂN TRỌNG VÀ THÀNH THẬT BIẾT ƠN.

    XIN TÌM ĐỌC
    CÁC CUỐN SÁCH KHÁC CỦA TÁC GIẢ
    KÍNH CẢM ƠN



    [Trang thủ tục:]
    NHÀ XUẤT BẢN:

    2003

    CHỊU TRÁCH NHIỆM XUẤT BẢN:


    BIÊN TẬP:


    BÌA:


    CHỮA BẢN IN:


    In 500 cuốn, khổ 14, 5 x 20, 5 cm,
    tại xí nghiệp in:
    Số đăng kí kế hoạch xuất bản:
    do Cục Xuất bản cấp ngày:
    Quyết định xuất bản:
    In xong và nộp lưu chiểu trong tháng:


    GIÁ:



    NHẬT KÍ SỬA CHỮA

    ◘ Bản thứ nhất

    Xếp chữ vi tính từ bản thảo viết tay của Trần Xuân An và trình bày: LÊ KÍ THƯƠNG, CAO THỊ KIM QUY (theo hệ QuarkXpress, VNI-Times), trong năm 2000.

    ◘ Bản thứ hai

    - TRẦN XUÂN AN (người biên soạn) tự chuyển bản thứ nhất sang hệ WORD 2000, VNI-Times, vào sáng ngày 13. 03. 2003 (11. 02 Quý mùi HB 3) và trình bày lại trong ba ngày, từ ngày 13 đến 15. 04 năm 2003 (12 – 14. 03 Quý mùi HB 3).

    - Lưu ý: Nội dung hai bản đều y hệt nhau, ngoại trừ bài phân tích các chủ điểm sử học để làm cơ sở cho việc cảm nhận bài thơ “Giải triều …” (đặt đầu đề “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc kinh đô quật khởi, 05. 07. 1885”) là có tự nhuận sắc ít nhiều.

    - Đã chỉnh lại cỡ bát chữ: 02. 03. HB 4 (2004).

    - Tự nhuận sắc lại về phần niêm cho các bài thơ theo thể thất ngôn, ngũ ngôn luật Đường: 03 – 05. 03. HB 4 (13 – 15. tháng hai nguyên, Giáp thân HB 4).

    Bản thứ hai này đã được sửa chữa, bổ sung lần cuối (về cơ bản, nội dung không khác bản thứ nhất); hoàn tất: 21. 03. HB 4 (01 tháng hai nhuận, Giáp thân, HB 4).

    ◘ Bản thứ ba

    Chuyển từ hệ mã VNI-Windows, font VNI-Centur sang hệ mã Unicode, font Arial, tháng 4. 2005 (năm Ất dậu HB 5) và trình bày lại vào ngày 08 - 09. 8. 2005 (mùng 4 & 5 tháng 7 Ất dậu HB 5). Trong bản này, có bổ sung một bài của Nnc. Trần Viết Ngạc về biến cố “tứ nguyệt tam vương”.

    TXA.


    ĐÍNH CHÍNH

    Ở hai trang 244 - 245, người biên soạn đã quá khiên cưỡng khi liên hệ đến bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà huyện Thanh Quan. Chúng tôi (nbs.) đã có dịp viết về bài thơ này:

    Phải liên hệ với các bài thơ khác của Bà huyện Thanh Quan, nhất là “Thăng Long thành hoài cổ”, khi cảm thụ “Qua Đèo Ngang”.

    Chữ “quốc” vốn có nghĩa là “[Đất] nước” (Tổ quốc, quốc gia), nhưng dưới chế độ phong kiến, người ta bị nhồi sọ, đồng nhất Đất nước, Tổ quốc với một triều đại do một hoàng tộc trị vì, do đó “quốc” cũng có nghĩa là “triều đại” (quốc tính [:họ của vua, của hoàng tộc], quốc thích [bên ngoại hoặc bên vợ của vua]…)! Hoặc, có người đồng nhất Tổ quốc, quốc gia với kinh đô của một triều đại hay của những triều đại nối nhau đóng đô ở đó. Nguyễn Du có câu thơ: “Thập tải phong trần khứ quốc xa” (Mười năm gió bụi rời khỏi kinh thành xa xôi) (U cư, Thanh Hiên thi tập, NDTT., sđd., tr. 43 - 44). Hai câu thơ của Bà huyện Thanh Quan trong bài “Qua đèo Ngang”, “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc; Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”, rõ ràng là thể hiện nỗi lòng hoài Lê, đồng nhất triều đại Lê – Trịnh với Thăng Long (Hà Nội), với Tổ quốc (mặc dù sĩ dân Bắc Hà đều biết thể chế vua Lê bù nhìn, ươn hèn và chúa Trịnh lấn bức, chuyên quyền là một biến thái phi đạo lí).

    Xin biên tập viên Nxb. và người đọc vui lòng xem như không có hai câu thơ “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc; Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” ở hai trang nói trên.
    Trên đây là đính chính nhưng đồng thời cũng là bị chú chung cho vấn nạn hoài Lê dưới triều Nguyễn.
    TXA. (nbs.)

    2 BẢN IN VI TÍNH LẦN THỨ HAI & THỨ BA,
    VỀ NỘI DUNG CƠ BẢN,
    KHÔNG KHÁC BẢN IN VI TÍNH LẦN THỨ NHẤT
    (CHỈ CÓ MỘT SỐ SỬA CHỮA, BỔ SUNG NHỎ).



    VỀ MỘT SỐ ĐIỂM
    TRONG BẢN CHÉP THI TẬP
    NGUYÊN TÁC CHỮ HÁN


    A. Các chữ chép sót hoặc chép lỡ nét, đành phải chép tiếp và đánh dấu đảo [thượng / hạ] (thay vì cạo, dán hoặc tháo bỏ tờ đó khỏi quyển rồi chép lại):

    1. Bài 10: bất đáo → đáo bất

    2. Bài 14: tôn sinh [thất vận] → sinh tôn

    3. Bài 18: hạ dạ → dạ hạ

    4. Bài 33: sự thế → thế sự

    5. Bài 33: trung khúc [thất niêm] → khúc trung

    6. Bài 39: chấn đa [thất niêm] → đa chấn

    7. Bài 48: hải phù [thất niêm] → phù hải

    8. Bài 55: kỉ thứ → thứ ki (cơ)

    9. Bài 60: tráng thiên [thất niêm] → thiên tráng

    10. Bài 62: nhân đồng → đồng nhân

    B. Điều chỉnh (đảo ngữ) lại cho hợp vần:

    1. Bài 62: xuất một gian → một gian xuất

    2. Bài 62: sao náo → náo sao

    3. Bài 62: mê giã giác [âm khác :giáo] → giác giã mê

    C. Có hai chỗ chép sót chữ:

    1. Bài 55: thiếu chữ “tri” (tri dã hữu nhân dư). Có lẽ chữ này bị cạo, dán, chưa chép lại cho đủ.

    2. Bài 65: sót chữ “lưu”, người chép đã chép chèn (triều tôn đãn hướng đông lưu thuỷ).

    Tổng cộng: có mười hai điểm đính chính (mục A & mục C) cùng ba điểm khác, người biên soạn (TXA.) mạo muội tạm điều chỉnh cho hợp vần (mục B).

    Ngoài ra, còn có ba chữ thuộc loại khó (“chiềng chuỳ”, bài 30; cũng là chữ “chiềng”, bài 66; “kiển kiển”, bài 37). Kính mong được sự chỉ bảo của các bậc chuyên gia về chữ Hán – Nôm thế kỉ XIX. Xin cảm ơn trước.

    TXA.


    [Trang quảng cáo sách đã xuất bản trong năm 2003 & 2004:]

    Kính mời tìm đọc
    Hai cuốn tiểu thuyết của TRẦN XUÂN AN
    do Nhà Xuất bản Thanh Niên ấn hành,
    tháng 7. 2003:


    NGÔI TRƯỜNG THÁNG GIÊNG
    (376 tr.)
    SEN ĐỎ, BÀI THƠ HOÀ BÌNH
    (280 tr.)


    Có bán tại hiệu sách
    của Nhà Xuất bản THANH NIÊN
    270 Nguyễn Đình Chiểu,
    quận 3, thành phố Hồ Chí Minh
    (ĐT.: [08]. 9303262)
    và tại các nhà sách khác.

    Tác giả
    (ĐT.: [08]. 8453955).


    ĐỂ HIỂU MỘT GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ
    VÀ MỘT NHÂN VẬT LỊCH SỬ:
    Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp”, “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”,
    XIN TÌM ĐỌC:
    PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
    NGUYỄN VĂN TƯỜNG
    (1824 – 1886)
    (truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử)
    trọn bộ 4 tập (985 tr. 16 x 24 cm)
    Tác giả: TRẦN XUÂN AN

    Hội đồng Tư vấn, Phản biện & Giám định
    thuộc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam giám định.
    Tổng Thư kí Hội Khoa học lịch sử Việt Nam
    DƯƠNG TRUNG QUỐC
    viết lời giới thiệu.

    NXB. VĂN NGHỆ TP. HCM. ấn hành, 12. 2004.
    Công ti Phát hành sách Fahasa phát hành
    tại 41 Nguyễn Huệ, quận 1, TP. HCM.
    & tại 62 Lê Lợi, quận 1, TP. HCM….





    ĐÍNH CHÍNH BỔ SUNG

    THƠ
    NGUYỄN VĂN TƯỜNG
    Vài nét về con người, tâm hồn & tư tưởng



    ĐÍNH CHÍNH BỔ SUNG
    (chủ yếu ở phần Thi tập)


    Vì vô ý, người biên soạn đã in vi tính nhầm tập văn bản (file) chưa sửa chữa. Sau khi in xong, đưa đi sao chụp (photocopy), vẫn không biết mình nhầm.

    Nay đành phải lập bản đính chính bổ sung này.

    Mong được các dịch giả và Ts. Ngô Thời Đôn thứ lỗi.

    Có một điều cũng cần thưa thêm: Vì bản phiên âm, bản dịch nghĩa vẫn là quan trọng nhất, nên ở đây, nbs. không đính chính ở “bản [dịch thơ] biên soạn”. TXA.

    A. Phần sáng tác ngoài Thi tập:

    Tiểu mục 2:

    Bổ sung chú thích (1): Bùi Viện (chữ “Viện” thuộc bộ ngọc); có nơi viết chữ “Viện” thuộc bộ thủ [âm chữ thường dùng: viên; âm khác: viện (:cứu giúp)].

    B. Phần Thi tập:

    1. Bài 1: Bản phiên âm:

    a. Hai câu 17 & 18: “Thiền uyên thất độ hà, Thằng trì tư phấn dực”. Thiền và Thằng đều là điạ danh. Chữ “Thằng” trong bản chép tay được viết theo lối giản thể (xem: Thiều Chửu, HVTĐ., Đạt Sĩ bổ sung, Nxb. Thanh Niên, 2003, tr. 436).

    b. Câu 27: tanh → tinh.

    c. Câu 32: hiến → du (:mưu lược).

    2. Bài 3: Bản dịch nghĩa:

    Câu 5: thừa thãi → còn trơ ra [với thời gian].

    3. Bài 4: Bản phiên âm:

    a. Câu 4: hảo (âm khác: hiếu [: ưa thích]) → hảo (hiếu)

    b. Câu 6: thọ (âm thường dùng: thụ [đồng nghĩa]) → thọ (thụ)

    Bản dịch nghĩa:

    Câu 3: [Núi] → Núi.

    4. Bài 8: Bản dịch nghĩa:

    Câu 3: Ải vắng → Ải hiểm (:ải cheo leo).

    Bản dịch thơ:

    Câu 2: lòng ngất ngây → [lòng] man mác thay.

    Câu 8: cháu con khuây → cháu con ngây!

    5. Bài 12: Bản phiên âm:

    Câu 7: hiến → du (:mưu lược).

    Bản dịch nghĩa:

    Câu 7: Mưu lược mạnh mẽ [như trai trẻ] bày biện đủ đầy còn đó (Tráng du cụ tại).

    6. Bài 14: Bản dịch nghĩa:

    Câu 1: Đó là phúc nhà của bản thân mình, cũng là ơn của vua.

    7. Bài 16: Bản dịch nghĩa:

    Câu 2: Cũng có thể dịch: Sao không xem việc phòng ngự, khống chế [quân giặc] cũng như là việc xung trận. Nhưng cách dịch trước vẫn đúng hơn: Làm sao chống giữ [quân giặc], đồng thời bốn hướng thông thương.

    Chú thích:

    Chú thích (6) bản dịch nghĩa: Xử thế / mạc phi // tranh giả ngộ. “Ngộ”: gặp gỡ; phù hợp.

    8. Bài 17: Bản phiên âm:

    Câu 8: bí → bí (pha)

    9. Bài 18: Bản phiên âm:

    Câu 4: Tanh → Tinh.

    Bản dịch nghĩa:

    Câu 4: cùng [một] thời → cùng hẹn (“tương kì”: cùng kì hẹn).

    10. Bài 21: Bản dịch nghĩa:

    Câu 4: ai [lại] chia tay Nhan [Hồi]; hoặc: ai biệt đãi Nhan [Hồi].

    Câu 8: Theo nghĩa từ điển: “ban” có một nghĩa là rút quân. Nghĩa này rất sát hợp với Đại Nam thực lục (xem chú thích). Cũng có thể dịch: Nào đã từng thi thố một lần.

    11. Bài 23: Bản phiên âm:

    Câu 2: thần → thần (thời)

    12. Bài 24: Bản dịch nghĩa:

    Câu 7: nên ôm giữ sự trong sạch, tĩnh tại.

    13. Bài 26: Bản phiên âm:

    Câu 6: Vi → Vi (vị) [Vi: làm; Vị: vì].

    Câu 8: cánh ( cánh (canh)

    Bản dịch nghĩa:

    Câu 1: Ai kia làm được việc tốt cho triều đình.

    Câu 6: Vì đức đến cùng, há cầu bên ngoài

    Câu 8: nên oán hận sao? → thấy lại thêm oán hận sao?

    14. Bài 3: Bản biên soạn:

    Câu 8: Ai tạo, dân đen? → Ai tạo dân đen? (bỏ dấu phẩy).

    15. Bài 31: Bản dịch nghĩa:

    Câu 4: quân lính trong sạch ( thanh thế quân đội

    Câu 8: yêu ma → nhỏ bé


    16. Bài 33: Bản dịch nghĩa:

    Câu 7: Cũng có thể dịch “bàng nhân” là người bên cạnh, nhưng nghĩa từ điển còn là: người ngoài cuộc (TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 38 [chữ “bàng” có bộ nhân và không có bộ nhân vẫn như nhau]).

    17. Bài 35: Bản dịch thơ (TĐV.):

    Thiếu một chú thích (2) cho câu 8 bản dịch thơ (TĐV.): Định Viễn (sử Trung Hoa): mĩ hiệu của Ban Siêu, có nghĩa là bình định được vùng đất biên viễn. Đó là một người được phong đến tước hầu; trải qua ba mươi năm chinh chiến ở biên giới, khi trở về đầu đã bạc trắng.

    18. Bài 36: Chú thích:

    Bổ sung chú thích (5) cho câu 8 bản dịch nghĩa: Cũng có thể tác giả nhắc đến điển tích “xuân dương, bạch tuyết”, ý nói: bài hát dân dã, thơ ca mộc mạc.

    19. Bài 38: Bản phiên âm:

    Câu 2: nhược → khổ (?).

    20. Bài 45: Bản dịch nghĩa:

    Đầu đề: BUỒN LO … → [ĐƯỢC] VỀ NGHỈ BỆNH.

    Câu 2: Gia Viễn, người mới về → (nếu “gia viễn” không phải điạ danh:) Nhà xa, bắt đầu về (Nhà xa, người khởi về)

    Câu 7: tặng biếu → đưa tiễn (cũng có thể dịch: tặng biếu).

    21. Bài 46: Bản dịch nghĩa:

    Đầu đề: LÀM TIẾP TỔNG ĐỐC SƠN TÂY [HỌ] TRẦN [CÂU THƠ] ĐÃ LÀM SẴN, [BÀI] “NGUYÊN ĐÁN THỬ BÚT”

    Chú thích:

    Bổ sung chú thích (2) bản dịch nghĩa: Lưu ý: Hai câu thơ đầu theo luật bằng (chữ thứ hai câu thứ nhất: “niên” [thanh bằng]) nhưng sáu câu tiếp lại là luật trắc. Do đó, hẳn hai câu đầu bài là của Trần Bình?

    22. Bài 47: Chú thích:

    Chú thích (3): Nguyễn hải → Nhuyễn hải.

    23. Bài 48: Bản phiên âm:

    Câu 6: Hải phù kì lục → Phù hải kì duyên

    Bản dịch nghĩa:

    Câu 6: Biển cồn mối duyên lạ lùng

    24. Bài 48: Bản phiên âm:

    Câu 4: phị → phị (phí)

    Chú thích:

    Chú thích (3): núi Ba → núi Bà.

    25. Bài 53: Bản dịch nghĩa:

    Câu 4: suy nghĩ → suy tôn

    Chú thích:

    Chú thích (a): (“mỗi câu có vài chữ mắt”) … → (“mỗi câu có vài chữ số [số mục]”). Ngoài ra, thiết tưởng cũng nên lưu ý đến các nhãn tự (chữ mắt) trong bài thơ này. Có lẽ nhà thơ muốn khẳng định về mặt cá tính, Lê Văn Duyệt là một trang nam tử hẳn hoi, mặc dù đích thực là người yêm hoạn bẩm sinh…

    26. Bài 55: Bản phiên âm:

    Câu 40: Cư tử → Quân tử

    Câu 42: Kỉ thứ → Thứ cơ (ki) [: ngõ hầu]

    Chú thích:

    Chú thích (11): “cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cữu…”. Đại ý: cái gì quá cực đoan sẽ dẫn đến sự biến dịch, biến dịch tất phải khai thông, khai thông tất phải như cũ (trạng thái bình quân âm – dương). Lão Tử đã viết rõ về luật “phản phục”: “Vật cùng tắc biến”; “vật cùng tắc phản” (sự vật đi đến chỗ cực đoan sẽ quay ngược lại); “Đại viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản” (Lớn là tràn khắp, tràn khắp thì đi xa, đi xa là trở về); hiểu một cách khái quát, cũng như trên đã nói: sự vật khi đi đến cực độ thì phải biến, mà biến, thì lại biến trở về cái đích của nó (xem: LTTH, sđd., tr. 44, 124).

    27. Bài 60: Bản dịch nghĩa:

    Câu 1: [Tuy] không [lớn] bằng núi Linh Thái, [song núi Thuý Vân] cũng chầu về [phương] nam

    Câu 5: [ở các] ngọn núi ([ngỡ] tròn) lắm mây → mây [che trên] ngàn ngọn núi

    Câu 6: [ở những] đầm phá [tràn ngập] đều khắp [ánh] trăng ([ánh] trăng [trải khắp] một đầm phá

    28. Bài 61: Bản phiên âm:

    Câu 1: Vi → Vị

    Châu phê: biểu kiến → biểu hiện (kiến)

    Bản dịch nghĩa:

    Câu 1: → [Công] bình định, làm nên của vua Vũ là đã rạch ròi, thông suốt [bờ cõi].

    Câu 6: Triều đình → chầu về (“củng triều”)

    Chú thích:

    Dịch nghĩa câu châu phê: (b) ngươi cũng không được rảnh rỗi → vậy cũng thật [ngươi] không được rảnh rỗi; … & … [nhưng] không biểu lộ kiến giải gì → [cũng] không lộ liễu gì (tức là ý tứ kín đáo; lộ liễu là nhược điểm trong thơ; kín đáo là ưu điểm trong thơ).

    29. Bài 62: Bản phiên âm:

    Câu 19: Kình nguyệt → Kình huyệt

    Câu 29: khách điển → khánh điển

    Câu châu phê: nhị thập niên → nhị thập bát niên

    Chú thích:

    Chú thích (13): “Máy huyền vi tạo hoá khôn lường” → “Máy huyền vi đóng mở khôn lường”

    30. Bài 63: Bản phiên âm:

    Câu châu phê: “Chí khí sở vi lão nhi ích tráng” → “Chí khí sở vị lão nhi ích tráng”

    Bản dịch nghĩa:

    Câu 4: Chẳng quan hệ gì đến chuyện đua bơi [mà] cánh buồm [nhẹ] lướt


    31. Bài 65: Bản phiên âm:

    Câu 31: bất thắng tình → bất thăng (thắng) tình

    Bản dịch nghĩa:

    Câu 30: Triều đình, tôn thất (mặc dù cũng có thể dịch như vậy) → Chầu về ngôi cao


    32. Bài 66: Bản phiên âm:

    Câu 1: động hữu chiềng → động (đỗng) hữu chiềng


    Người biên soạn (TXA.) chép lại những điểm đính chính, hiệu đính của các dịch giả và của Ts. Ngô Thời Đôn như trên.
    Tp. HCM., ngày 08. 04. HB4 (19. 02 nhuận G. thân HB4).
    TXA.

    Ngày 09-8-2005 (5-7 Ất dậu HB 5), đã sửa ở các trang cần đính chính.
    TXA.



    TÁC PHẨM
    VÀ SOẠN PHẨM BIÊN KHẢO, NGHIÊN CỨU
    của Trần Xuân An
    VỀ NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 – 1886)
    ĐÃ HOÀN TẤT BẢN THẢO
    (có cuốn đã xuất bản hoặc đã đăng tải trên website / internet):


    1. Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, hai tập I, II, 2002, hai tập III, IV, 2003; đã sửa chữa cả bốn tập (2003 - 2004); NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 2004.

    2. Thơ Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) & Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (biên soạn – nghiên cứu, phản bác, và tập hợp một số bản dịch, bài khảo luận văn học và sử học về NVT.), 2000.

    3. Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001.

    4. Những trang Đại Nam thực lục về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời kì đầu chống thực dân Pháp… (Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), chọn lọc, phần II, 2001.

    5. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002; đã sửa chữa, bổ sung, 2003. Web Giao Điểm, tháng 5 – 2005.



    DANH SÁCH ĐÃ GỬI & TẶNG
    (nhờ đọc & giữ bản thảo giúp):


    A. Bản in lần thứ nhất (2000), chưa sửa chữa, hiệu đính:

    1. Tạp chí Xưa & Nay (anh Nguyễn Hạnh)

    2. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (cô Nguyễn Thị Phương Chi)

    3. Nxb. TP. HCM. (cô Đỗ Loan)

    4. Ô. Võ Xuân Đàn

    5. Ô. Trần Viết Ngạc

    6. Ô. Trần Đại Vinh & Ô. Ngô Thời Đôn

    7. Chú Nguyễn Văn Toàn (bà con)

    8. Chú Nguyễn Văn An [ĐHSP. Tp. HCM.] (bà con)

    9. Tạp chí Sông Hương

    10. Tạp chí Cửa Việt (Ôô. Cao Hạnh, Y Thi)

    11. Ô. Nguyễn Q. Thắng

    12. Một cuốn lưu … & một vài cuốn khác để làm bản nháp hiệu đính …

    B. Bản in vi tính lần hai (3.2004), đã sửa chữa & bản đính chính bổ sung (hiệu đính…):

    1. Nxb. TP. HCM. (cô Đỗ Loan)

    2. Chi nhánh Nxb. Văn Học (anh Triệu Xuân)

    3. Ô. Trần Đại Vinh

    4. Ô. Ngô Thời Đôn

    5. Anh Nguyễn Tôn Nhan

    6. Anh Vũ Đức Sao Biển

    7. Một cuốn lưu …

    TXA.
    TP.HCM., 10. 04. HB4



    __________________________


    Tiếp theo phần 2
    (từ tr. 210 đến tr. 483)

    Phần 3
    (từ tr. 484 đến tr. 595)

    (trọn cuốn sách chỉ gồm 3 phần, tổng cộng 595 tr., gồm cả những trang ngoài sách, những trang dự phòng để chỉnh lí sai sót [tr. 574 – 595])


    05-11 HB6:
    Web. Tác phẩm Trần Xuân An –
    www.tranxuanan-writer-7

    - Tr. 484 – 573
    - & ….








    ____________________________
    ____________________________



    Ghi chú về sự sắp xếp lại trang web:

    Tệp 12 này, người biên khảo đã đưa từ trang web:
    http://www.tranxuanan-writer-7.blogspot.com
    qua trang web:
    http://www.tranxuanan-writer-6.blogspot.com

    Như vậy, cuốn sách "NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 - 1886) -- THƠ -- VÀI NÉT VỀ CON NGƯỜI, TÂM HỒN & TƯ TƯỞNG" chỉ có 2 trang web chính:
    1. Từ tệp 1 đến tệp 6 (khung 1[1] đến khung 6[6] của trang web):
    http://www.tranxuanan-write-5.blogspot.com
    2. Từ tệp 7 đến tệp 12 (khung 1[7] đến khung 6[12] của trang web):
    http://www.tranxuanan-write-6.blogspot.com
    cộng với hai trang web nguyên tác chữ Hán phụ lục:
    http://www.tranxuanan-writer-3.blogspot.com
    http://www.tranxuanan-writer-4.blogspot.com

    Tôi sẽ dành trang web:
    http://www.tranxuanan-writer-7.blogspot.com
    cho phần đối thoại giữa tôi và anh Nguyễn Đắc Xuân, giữa tôi và Lê Tiến Công.

    Đây chỉ là sự thay đổi vị trí của tệp 12 mà thôi. Ngoài ra, hoàn toàn không có sự sửa chữa, bổ sung nào về nội dung của cả 12 tệp thuộc cuốn sách nói trên.

    Trân trọng kính thông báo về sự thay đổi này.

    Người biên khảo:
    TRẦN XUÂN AN

    Thứ hai (thứ ba cũ), ngày 28-11 HB6 (2006)
    [sinh nhật âm lịch 08-10 // Bính tuất HB6],
    lúc 08 : 31' tại TP.HCM..

    Chủ nhật, tháng mười một 05, 2006

    11. NGUYEN VAN TUONG (1824 - 1886) -- THO -- VAI NET VE CON NGUOI, TAM HON & TU TUONG / Tệp 11

    Bài 54

    TẠI GIA ĐỊNH ĐẮC BÁO THAM BIỆN
    NGUYỄN CHI TỬ THU TIỆP


    Khách trung xa mã yếm phi trần
    Hồi ức thu vi tập tấn thân
    Phan quế thử lang nghi đắc thủ
    Thừa sà ngô bối vị tri tân
    Gia nghiêm trách trọng thần vi phụ
    Quốc khánh thù nan tử hữu quân
    Vân thủy hà thời quy cựu phố
    Nhất môn vũ trạch cánh thiêm tân.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    54

    Ở GIA ĐỊNH ĐƯỢC TIN CON TRAI
    THAM BIỆN NGUYỄN TĂNG DOÃN
    THI HƯƠNG ĐỖ

    Quê xa người ngựa, chán phong trần
    Nhớ buổi thi hương tập tấn thân
    Vin quế chàng này càng rõ vững
    Cỡi bè đây lão chẳng hay gần
    Tôi, quan, làm bố, nghiêm bồ chữ
    Vua, nước, tuyển con, nặng gánh ân
    Mây sóng khi nào về bến cũ
    Hai ơn một cửa lại tươi ngần.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    54

    TẠI GIA ĐỊNH (1), ĐƯỢC BÁO TIN CON
    TRAI THAM BIỆN [HỌ] NGUYỄN (2) THI ĐỖ
    KỲ THI MÙA THU (3)

    Khách ở trong [chốn] xe, ngựa, chán ngán bụi bay
    Nhớ lại khuôn viên [trường thi hương] mùa thu, tập tành làm người quan chức (thượng lưu) (4)
    Vin cây quế (5) chàng trai này xứng đáng [là] tay nắm được
    Cỡi bè (6) bọn ta chưa hề biết bến bờ!
    [Vẻ] nghiêm túc [của] gia đình, [sự] nặng nề
    [bởi] trách nhiệm, người bề tôi làm cha [là phải nhận thức và xây dựng nền nếp ấy]
    [Người được hưởng] phúc mừng (phần thưởng) [của]
    nước, [việc] khó khăn [trong] sự đền đáp, [nhưng nay] con[đã] có vua [để phụng sự]
    Mây nước khi nào quay về bến cũ
    Một gia đình [được ơn] mưa [móc], thấm nhuần ruộng đất, càng thêm tươi mới.

    (1) Gia Định, nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

    (2) Nguyễn Tăng Doãn (ĐNTL.CB., tập 33, tr. 42, 78...).

    (3) Thi hương, thường tổ chức vào mùa thu.

    (4) Tấn thân: người cầm hốt mà xõa tay áo đỏ (chỉ quan viên, thượng lưu). Học giỏi, làm quan, như thế cũng là bước vào giai tầng trên của xã hội (theo quan niệm phong kiến Việt Nam, không phân biệt thành phần xuất thân). Đó là con đường tấn thân (tiến thân) của kẻ sĩ.

    (5) Vin quế (“phan quế”): thi đỗ (nghĩa bóng).

    (6) Cỡi bè, nghĩa bóng: vượt qua bể học (không có bến bờ). Nghĩa này phù hợp với văn cảnh hơn là “cỡi bè” vượt qua “bể hoạn” (bể hoạn: con đường làm quan sóng gió như đi trên biển).

    54

    TẠI GIA ĐỊNH, ĐƯỢC TIN BÁO CON
    TRAI THAM BIỆN NGUYỄN TĂNG
    DOÃN THI ĐỖ KÌ THI MÙA THU

    Xa quê, chán bụi, ngựa người đua
    Nhớ thuở thi hương tiến bước xưa
    Vin quế, chàng này càng xứng nắm (1)
    Cỡi bè, đây bọn chửa hay bờ! (2)
    Nếp nghiêm, nho gánh, thần làm bố
    Đàn phúc, sĩ xây, con có vua
    Mây nước khi nào về bến cũ
    Một nhà nết đất sáng ơn mưa.


    (bản biên soạn)

    (1) Chữ “nắm” (cái nắm tay) là một danh từ, để đối với danh từ “bờ”.

    (2) Chưa bao giờ thỏa mãn trong việc học tập, cứ học hoài học mãi, dù đã đỗ đạt, ra làm quan.


    Bài 55

    ẤT HỢI NGUYÊN CHÍNH


    1. Huyền minh công thành hậu (*)
    Giáp tuất thứ kiû trừ
    Bộc trúc liên tiêu hưởng
    Điều phong lai từ từ
    5. Ngũ canh đãi lậu hạ
    Đông minh lũ vấn cừ
    Chung thanh tài báo hiểu
    Loan thanh chí chỉ thư
    Cửu trùng lí thủ tộ
    10. Bách chấp giao phu như
    Đình hạ tập bang khánh
    Điện thượng phú Gia ngư
    Trân tàng xuất thiên phủ
    Thù tình phỉ báo cư
    15. Khánh tứ triêm thừa hậu
    Chiêm y húc nhật sơ
    Tam triêu khí tải thục
    Tường quang mãn đế cư
    Nhất niên trưng hưu cát
    20. Quần sinh giai phát thư
    Hi nhiên đăng xuân đài
    Hồn nhiên lâm Hoa Tư
    Đán hề ca phục đán
    Quỳ tâm hướng nhật sư
    25. Thái Hòa thành khả lạc
    Tung huống đồng thân sơ
    Thánh tâm bất tự mãn
    Bách vi kì bật dư
    Phỉ cung nãi thần phận
    30. Hoàng tuất đồ dữ cư (cứ)
    Dân sinh hà dĩ toại
    Quốc kế hà dĩ dư
    Trù mâu thượng vị cập
    Vô phụ thử cư chư
    35. Phú cường phi biệt đạo
    Thành pháp cụ tư như
    Khuynh phủ tức phục thái
    [… Tri (?) …] dã hữu nhân dư
    Hạnh phùng dương chính trưởng
    40. Quân tử hỉ đắc dư
    Giao tu thận nguyên thuỷ
    42. Thứ ki (cơ) vĩnh chung dư (dự).


    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm

    55

    MỒNG MỘT THÁNG GIÊNG NĂM ẤT HỢI

    1. Việc luân chuyển huyền bí xong rồi
    Năm Giáp tuất đã qua
    Tiếng pháo nổ suốt đêm
    Ngọn gió nhẹ đến chậm rãi
    5. Năm canh chờ mức nước đồng hồ hạ xuống
    Nhiều lần trông chừng xem đã hừng đông chưa
    Tiếng chuông mới báo trời sáng
    Tiếng chim loan ríu rít
    Đức vua bước lên ngôi
    10. Quần thần đứng chắp tay
    Dưới sân rồng chúc mừng
    Trên điện đọc thơ Gia ngư
    Đem châu báu ra phủ vua
    Đáp lại tình cảm không phải bằng ngọc cư
    15. Ơn vua thấm đầy
    Ngắm nhìn mặt trời mới mọc
    Ba buổi sáng không khí dịu mát
    Ánh tường quang tỏa khắp cung vua
    Hiện ra điềm tốt lành trong một năm
    20. Vạn vật đều phát triển tốt tươi
    Hớn hở lên đài xuân
    Hòa mình vào hàng quan lại
    Sáng sớm hề, ta hát đến sáng sớm mai
    Lòng hoa quỳ tươi vui theo bóng mặt trời
    25. Thái Hòa xong thật là vui
    Chúc thọ khắp người thân cũng như sơ
    Lòng đức vua không tự mãn
    Mọi người hết lòng giúp đỡ
    Dẹp phỉ là phận sự bề tôi
    30. Nhanh chóng cấp tiền cho người ốm đau tàn tật
    Đời sống của dân làm sao được toại ý
    Tiền của của nước làm sao được dư dả
    Còn chưa đến nỗi chật vật
    Chớ phụ những gì hiện đang có
    35. Giàu mạnh không phải là con đường khác
    Phương cách thành công có đủ trong mưu kế chặt chẽ
    Bỉ hết rồi thì thái trở lại
    Bởi [… biết (?) …] có người ư!
    May gặp lúc dương đang thịnh
    40. Người quân tử vui vì được xe tới đón
    Giao thiệp nên thận trọng buổi đầu
    42. Dân chúng khen ngợi mãi mãi.

    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    dịch nghĩa

    55

    ĐẦU NĂM ẤT HỢI (1)

    1. Công việc [chuyển từ] bóng tối [ra] ánh sáng (từ huyền nhiệm thành minh bạch) [đã] thành [một cách] trọn vẹn
    Giáp tuất, năm thứ hai (phục vụ tại Triều đình) [sắp] trừ tịch (2)
    Pháo trúc suốt đêm âm vang
    Gió dịu mát đến chầm chậm
    5. Năm canh (3) chờ giọt [đồng hồ] hạ thấp [mực nước trong bình] (4)
    Ánh sáng phương đông – nhiều lần hỏi ai (đã hừng đông chưa?)
    Tiếng chuông vừa báo sáng
    Giọng chim loan vang ca, lắng ngừng, thư thả
    Chín tầng (5) làm việc [: ban] vận may đầu [năm]
    10. Trăm người đồng chí hướng vái người đi qua
    [để lên ngai]
    Dưới sân [rồng] quần thần (các đại thần) chúc mừng [năm mới]
    Trên điện [vàng], [vua đọc] bài phú “Gia ngư” (6)
    Kho châu báu [:lời văn của vua] mở ra [ở] nhà trời (7)
    Đáp tình [vua], không [dám] tạ lời [như thể dâng] ngọc cư (8)
    15. Ơn huệ người trên ban thấm đẫm, nối liền, [sâu] nặng
    Thấy y như ánh sáng ban mai [lúc] mặt trời bắt đầu [mọc]
    Ba sớm mai chuyển tải không khí dịu mát
    Ánh sáng tốt lành tràn đầy nơi vua ở
    Một năm hiện ra [điềm] tốt đẹp
    20. Các sinh vật đều phấn phát nhẹ nhàng
    Vui thay [vua] lên đài xuân!
    Hồn nhiên bước vào [nước] Hoa Tư (9)
    Sớm mai, chừ, ca hát [mừng] sớm mai trở về
    Lòng hoa dã quỳ hướng về mặt trời [đang] thỏa dạ
    25. [Việc trang trọng ở điện] Thái Hòa [đã] xong,
    có thể vui vẻ
    Lời chúc ở núi Trung Nhạc (chúc vua) (10), lời tạ của người thân cũng giống kẻ sơ
    Tâm thánh thiện không tự mãn
    Bách tính (thần dân) cùng trông mong giúp đỡ, cống hiến
    Sự vâng chịu của giặc, [đấy] mới là nhiệm vụ (phận sự) [của] kẻ bề tôi
    30. Tiền trợ giúp [cho] người già con trẻ, kẻ tay làm hàm nhai [được] cấp cho [chút] thịt thà
    Đời sống nhân dân sao cho toại nguyện
    Kế sách đất nước sao cho dư dả
    Trù liệu [cả những] sai lầm [, những gì vì vậy nên] còn chưa đạt [được]
    Đừng phụ những gì [đang] ở [cùng] (những gì đang có: nhật nguyệt – ngày tháng) này
    35. Giàu mạnh không phải là con đường khác biệt
    Phương cách đạt được thành công [được] hoàn bị (chuẩn bị chu đáo) [về] sự chặt chẽ (như rễ cây đan liền) [các] ý tưởng, sách lược
    Nghiêng xuống mức kém (11), tức là cái tốt
    [sẽ] quay về
    Bởi biết [đến] người [hiền tài] (12) ư!
    May mắn [là] gặp [khí] dương cho sự phát triển chính [đạo] (vươn thẳng)
    40. Người quân tử vui mừng có xe vua [đón]
    Giao thiệp cần thận trọng như buổi đầu [không bao giờ để sự thân mật dẫn đến suồng sã] (13)
    42. Ngõ hầu tiếng tốt trọn vẹn mãi mãi!

    (1) 1875, Ất hợi, Tự Đức năm thứ 28.

    (2) Trừ tịch: Đêm [năm cũ] ra đi: đêm cuối năm.

    (3) Canh: đơn vị thời gian ban đêm (“đêm năm canh...”).

    (4) Đồng hồ nước kiểu cổ.

    (5) Cửu trùng: chín tầng (trời, bệ ngai vàng): vua

    (6) Gia ngư: con cá đẹp tốt (tên một bài phú của vua Tự Đức), [Xem mục từ Ơn sóng, TĐTNTN., sđd., tr. 477].

    (7) Thiên phủ: nhà Trời (theo quan niệm phong kiến: đồng nhất vua với Trời).

    (8) Ngọc cư: một loại ngọc quý để đeo.

    (9) Hoa Tư: tên một quốc gia mộng tưởng, không có thật, thể hiện ước vọng không còn giai cấp và sự cách bức nào cả (vua cũng như kẻ bề tôi). Đây là đoạn thơ vượt khỏi luật gieo vần (xem bản nguyên tác chữ Hán) như một niềm reo vui, hân hoan tột cùng, ngỡ là khát vọng “nhà nước mộng tưởng” đang hiển hiện, có thật. [Xem mục từ Hoa Tư, TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 366].

    (10) Tung: núi Trung Nhạc (Tung Sơn) bên Tàu. Vua Hán Võ Đế đi chơi núi Tung Sơn, bỗng nghe có tiếng chúc tụng vua ba lần. Người ta cho đó là tiếng của thần núi. Nghĩa thông thường: tiếng chúc vua. (TĐTNTN., sđd., tr. 625). Tung hô: chúc vua.

    (11) “Cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cữu…”. Đại ý: cái gì quá cực đoan sẽ dẫn đến sự biến dịch, biến dịch tất phải khai thông, khai thông tất phải như cũ (trạng thái bình quân âm – dương). Lão Tử đã viết rõ về luật “phản phục”: “Vật cùng tắc biến”; “vật cùng tắc phản” (sự vật đi đến chỗ cực đoan sẽ quay ngược lại); “Đại viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản” (Lớn là tràn khắp, tràn khắp thì đi xa, đi xa là trở về); hiểu một cách khái quát, cũng như trên đã nói: sự vật khi đi đến cực độ thì phải biến, mà biến, thì lại biến trở về cái đích của nó (xem: LTTH, sđd., tr. 44, 124). Ở đây, thể hiện rõ quan điểm biện chứng nho gia với tâm thức tam giáo đồng quy.

    (12) Nguyên bản chép sót một chữ. Có lẽ là chữ “hiền” hoặc đúng hơn, là chữ “tri”: “Dã hữu hiền nhân dư!” (?); “Tri dã hữu nhân dư”. Tạm điền chữ “tri” (tri ngộ) – diễn đạt thuật dùng người của bậc minh quân –, căn cứ vào văn cảnh.

    (13) Quan niệm ứng xử, giao tế của nhà nho Việt Nam (ngay cả trong quan hệ vợ chồng).

    55

    ĐẦU NĂM ẤT HỢI (1875)

    1. Xong việc huyền minh chuyển
    Năm Giáp tuất đã qua
    Suốt đêm vang pháo trúc
    Chậm rãi gió hiền hòa
    5. Năm canh chờ đêm cạn
    Xem chừng hừng đông xa
    Tiếng chuông vừa báo sáng
    Chim loan ríu rít ca
    Chín tầng nắm vận nước
    10. Chung lòng vái người qua
    Dưới sân rồng, mừng chúc
    “Gia ngư”, văn Thái Hòa
    Trời ban lời châu báu
    Đáp tình, đâu ngọc ngà!
    15. Ơn vua dày sâu thấm
    Mặt trời rạng, ngắm xa
    Ba sớm mai dịu mát
    Ánh lành khắp cung hoa
    Điềm năm đẹp hiện ra
    20. Muôn vật đều tươi tốt
    Hớn hở lên đài xuân
    Hồn nhiên hòa vào quan (1)
    Sáng chừ, ca sáng sớm
    Dã quỳ, mặt trời gần!
    25. Vui lắm thay, Thái Hòa!
    Thân sơ nồng tạ chúc
    Không tự mãn, lòng đức! (2)
    Tận giúp, quan dân ta!
    Phận bề tôi dẹp giặc
    30. Mau chăm người bệnh tật
    Dân toại ý mọi nhà
    Sao dư thừa tiền nước
    Chật vật chưa sao mà!
    Đừng phụ gì đang có
    35. Mạnh giàu, đâu đường lạ!
    Thành công, vững mưu xa
    Suýt nghiêng là đứng đó
    Nhờ biết dùng người a?
    May gặp khi dương thịnh
    40. Xe vua đón, sĩ ca
    Từ đầu, quen cân nhắc
    42. Dân khen mấy sau xa?


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Hồn nhiên hòa vào quan, câu này chỉ tạm dịch theo ý. Thật ra, “Hồn nhiên lâm Hoa Tư”: hồn nhiên vào đất nước đại đồng mộng tưởng, không còn cách bức vua – tôi, cao – hạ nào cả.

    Dịch sát nghĩa hơn:

    “Vào Hoa Tư hân hoan”.

    (2) Một lời khuyên, nhắc nhở vua.


    Cước chú của bài thơ số 55, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*) Các bài thơ dài, chúng tôi đánh số thứ tự để tiện đối chiếu giữa các bản (nguyên tác, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, nhuận sắc), không phải phân đoạn.




    Bài 56

    CUNG HỌA NGỰ CHẾ BÍNH TÍ
    NGUYÊN NHẬT (NHỊ THẬP VẬN)


    1. Vũ phục kim âu điện
    Nghiêu giai ngọc lịch tân
    Dương niên phùng kỉ tiù
    Đẩu bính kháp lâm dần
    5. Liù thủy tam dương hảo
    Triều nguyên bách tích tuân
    Đào phù trừ cựu tịch (tích)
    Lậu tiễn báo sơ thần
    Tượng khuyết chiêm tinh nhật
    10. Uyên hàng túc tấn thân
    Tích linh từ tấn chỉ
    Hiến thọ đế cung thân
    Giáo hiếu tiên thiên hạ
    Đôn di ngưỡng nhất nhân
    15. Thanh loan di thúy điện
    Chu phất củng nghiêm thần
    Phụ ỷ đoan nguyên vị
    Hô tung biến thị thần
    Lộc minh khuông phỉ huống
    20. Đường đệ ngạc hoa chân (chấn)
    Quỳnh tịch hương ngưng lộ
    Tiêu trường ảnh tán ngân
    Bửu phân đồng dị tính
    Khánh chí tích kim xuân
    25. Gia huệ nhân thần bá
    Nùng triêm đáo xứ quân
    Hóa quân khai thái tượng
    Thần hàn ngụ thiên chân
    Duệ toán thâm đồ trị
    30. Chu hành chính vọng tân
    Vi thần tàm bỉ ổi
    Đại tiết phạp kinh luân
    Lệ chí thường giai phủ
    Hòa trung túy nhược thuần
    35. Thể nguyên cơ quát chuyển
    Đạt thuận nhĩ hà quân
    Vũ nhuận Chu nguyên thử
    Phong thanh Hán tái trần
    Vạn niên ca đế đán
    40. Hân duyệt phổ thần dân.


    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm

    56

    KÍNH HỌA BÀI THƠ NGÀY MỒNG MỘT
    TẾT BÍNH TÍ CỦA NHÀ VUA,
    HAI MƯƠI VẦN

    1. Áo Vũ vững âu vàng
    Thềm Nghiêu sang năm mới
    Năm dương lại gặp chi Tí
    Bính vừa đúng lúc vào Dần
    5. Bước đầu gặp được cái tốt tam dương
    Răm rắp triều nguyên
    Bùa đào tiễn năm cũ
    Thẻ đồng hồ báo trời sáng
    Đứng ở cửa khuyết quan sát sao và mặt trời
    10. Bá quan đứng thành hàng đai hốt nghiêm trang
    Trời ban thêm tuổi, thái hậu thêm phúc đức
    Vua cung kính mừng tuổi mẹ
    Dạy đạo hiếu làm đầu trong thiên hạ
    Ngưỡng mộ một người là ông Đôn Di
    15. Chim loan xanh dời đến thúy điện
    Những dây thao đeo ấn màu đỏ hướng về cung vua
    Quay lưng về phía tấm bình phong đứng nghiêm trang
    Các thị thần ai nấy đều tung hô
    Ngoài triều vua tôi vui vẻ
    20. Trong nhà anh em đầm ấm
    Tiệc quỳnh hương đọng thành sương
    Trong chén rượu ánh sáng lóng lánh như bạc tan
    Châu báu đem chia họ hàng nội ngoại
    Ghi nhớ niềm vui mùa xuân xưa nay
    25. Ơn huệ ban phát ra khắp cả
    Mọi nơi thấm đẫm như nhau
    Tạo hóa mở thái tượng
    Bút vua ngụ lòng trời
    Tính toán sâu xa là mong đất nước thạnh trị
    30. Hành động chu đáo phải trông chờ khách có tài
    Kẻ bề tôi nhỏ nhoi này thẹn vì xấu xa
    Tiết lớn thiếu mất tài kinh luân
    Trong phế phủ thường xuyên nung chí
    Say sưa trong lòng như dậy men
    35. Cơ trời sẽ chuyển dịch
    Đến hồi thuận rồi gần xa như nhau
    Mưa nhuần trên cánh đồng nhà Chu
    Gió thổi sạch bụi trên cửa ải nhà Hán
    Vạn năm ngợi ca buổi sáng của nhà vua
    40. Niềm vui tỏa ra khắp thần dân.


    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    dịch nghĩa

    56

    KÍNH HỌA BÀI THƠ
    “NGÀY MỒNG MỘT TẾT BÍNH TÍ (1)”
    CỦA NHÀ VUA, HAI MƯƠI VẦN

    1. Áo Vũ (2) vững âu vàng (3)
    Thềm Nghiêu (4) lịch ngọc (5) mới
    Năm dương (6) gặp kỉ Tiù (6)
    Sao đẩu Bính (6) thích hợp vào Dần (6)
    5. Khởi đầu [sự vận chuyển theo] dịch lí
    [lại là] ba cái dương (6) tốt
    Buổi thiết triều đầu năm, trăm [việc] khai mở
    [đều] tuân theo
    Bùa màu đỏ [vui tiễn] sự ra đi [của] năm cũ
    Mũi tên (: thẻ có vạch khấc) đồng hồ [xưa] báo
    [khắc] khởi đầu [của] sớm mai
    Cửa khuyết (7) với những hình tượng, [chừng như đang] ngắm sao [và] mặt trời
    10. Hàng chim phượng sồ là các quan cầm hốt, xõa
    tay áo đỏ [trông thật] nghiêm túc
    [Trời] ban đêm tuổi, người mẹ [của vua] tiến về [phía]
    phúc đức
    Chúc thọ, vua cung kính [thưa với] mẹ
    Dạy đạo hiếu làm đầu [cho] thiên hạ
    Đôn Di (8), [vua] ngưỡng mộ một người [ấy]
    15. Chim loan xanh [bay] dời [đến] điện sâu
    Những dây thao màu đỏ (9) xoay quanh (chầu) nơi vua ở [trông rất] nghiêm
    Tựa vào tấm bình phong đứng thẳng ở vị trí đầu
    [Các] thị thần tung hô khắp cả
    [Tiệc] lộc minh (10), [những] giỏ tre, thùng có nắp [vua] ban nhiều (11)
    20. Cây hải đường (12), [các] đóa hoa [được quây quanh bởi] các lá xanh [quanh chân hoa] phấn phát
    Tiệc đêm [với chén] quỳnh (13), hương đọng
    [thành] sương
    Chén [nồng vị] hồ tiêu (14), ảnh hình tan ra [như] bạc
    Châu báu, chừ, người cùng họ (nội), kẻ khác họ (ngoại)
    Ghi chép niềm vui, mùa xuân xưa nay
    25. Ân huệ tốt đẹp theo tinh thần [ấy] ban rắc ra
    Thấm nồng đến [mọi] xứ đều khắp
    Tạo hóa (15) khai mở hình trạng tốt đẹp
    Thành ý [của] trời ngụ [ở] bút nhà vua
    [Sự] tính toán [của] hoàng đế sâu sắc [trong các] dự định [để] cai trị
    30. Làm tròn [chức năng thiên tử] phải trông chờ [ở kẻ sĩ được quý trọng như] khách
    Kẻ bề tôi nhỏ nhoi thẹn [vì vốn trưởng thành trong]
    sự quê mùa [tại] nơi chốn gần biên ải (16)
    Tiết tháo lớn thiếu tài cứu nước giúp đời
    Chí nguyện gắng sức thường xuyên [mài sắc ở] khắp các phủ tạng [cứng bền như đá]
    Lòng hòa mục [với thiên nhiên, đồng loại, bạn bè] (17) say như thể rượu ngọt
    35. Cái lí uyên nguyên [của] bản thể [vũ trụ là] máy vận
    hành phổ quát [mãi] luân chuyển (18)
    Đạt tới lẽ thuận [thì] nơi xa,
    chốn gần đều cân bằng (18)
    Mưa tươi nhuần cánh đồng [nhà] Chu (19) [tốt] nắng
    Gió [quét] sạch biên ải [nhà] Hán (19) [ngập] bụi
    Vạn niên ngợi ca buổi sáng [của] nhà vua
    40. [Niềm] vui đẹp lòng khắp thần dân.

    (1) 1876, Bính tí, Tự Đức năm thứ 29.

    (2), (4) Hai vị vua cổ đại Trung Quốc, biểu tượng lí tưởng hóa.

    (3) Cái bình vàng (chắc bền), ví với Nhà nước.

    (5) Lịch của vua (có nạm ngọc, hoặc “ngọc” là mỹ từ).

    (6) Các khái niệm dịch lí học.

    (7) Cửa khuyết (cửa quyết), chỉ cung vua. Khuyết là lầu canh ở cung vua. Cung khuyết.

    (8) Đôn Di. Chưa tra cứu được điển này. Nếu theo chữ viết trong nguyên tác, có thể hiểu “đôn di” (chúng tôi không viết hoa – nbs.) là trau chuộng đạo thường (di luân, luân thường); ở đây là đạo hiếu.

    Cả câu: Trau chuộng đạo thường, [vua] ngưỡng vọng một người. Với mặt chữ như thế, không phải là danh tính Chu Đôn Di, triết gia đời Tống (Trung Hoa), người xây dựng nên lí học, được tôn xưng là Chu Liêm Khê, 1017 - 1073 (TĐHV., tập thượng, sđd., tr. 176).

    (9) Dây thao có đeo ấn: một trong các đồ phục sức của các đại quan theo quy định.

    (10) Lộc minh: tiệc vua ban cho các tân khoa thi hương (cử nhân); đây chỉ là sự ví von (ẩn dụ). [Xem TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 517]. Thơ Lộc minh: tên một thiên trong Kinh thi, khen vua nhà Chu đãi yến tịch (tiệc) các quan (ĐNLT., tập 3, sđd., chú thích, tr. 129).

    (11) Hẳn là các giỏ đựng thức ăn, các thùng đựng rượu.

    (12) Đường: cây đường (loại đỏ, gỗ làm cần cung; loại trắng, quả ăn được). Ân trạch của quan địa phương lưu lại gọi là cam đường. Đệ: cây đường đệ. Kinh thi có thơ Đường đệ nói về việc anh em ăn uống vui vầy [HVTĐ., sđd., tr. 300]. Ở đây, chỉ các hoàng thân trong hoàng tộc.

    (13) Tiệc quỳnh: tiệc có uống rượu với chén làm bằng ngọc quỳnh đỏ, vua chiêu đãi các tân khoa thi hội (tiến sĩ), [TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 113].

    (14) Ẩn dụ (ví von, so sánh ngầm), chỉ rượu nồng.

    (15) Tạo hóa, theo quan niệm cổ, như cái bàn xoay để làm đồ gốm (sành sứ). “Quân”: bàn xoay nặn vật.

    (16) Xem ĐNTL.CB., sđd., tập 30, tr. 170 - 172. Quốc sử quán đã ghi chép rất cụ thể, khá chi tiết:

    ... “Vua [[...]: lược bớt – nbs.] bảo bộ thần rằng: [...], ở nơi biên viễn, mà không được như Nguyễn Văn Tường, thì lợi chưa thấy, mà hại đã sinh ra, hối làm sao kịp. Bèn sai Thân Văn Nhiếp và Nguyễn Văn Tường thương lượng suy xét. Văn Nhiếp xin cho Nguyễn Văn Tường và Trần Đình Túc cáng đáng việc ấy, và đặt thêm chức tuyên phủ sứ, chọn người thổ trước để sửa sang các công việc.

    Nguyễn Văn Tường nói: các châu ở Thành Hóa đất liền với kinh đô, đời đời làm phên che giúp đỡ [...]. Còn về rừng sâu khí núi độc, thì có người đã ở quen, chịu đựng nổi; dân Man không biết gì, thì lấy sự dễ dãi để thân cận họ; biên viễn là việc quan hệ [...]. Trần Đình Túc chưa từng kinh lịch nơi đó [mặc dù Trần Đình Túc là người Do Linh, Quảng Trị – nbs.] nhưng địa thế, dân tình ở phủ hạt ấy rất là biết rõ. Thần sinh trưởng ở đất [Quảng Trị – nbs.] ấy, trước kia đã làm tri huyện ở [huyện Thành Hoá – nbs.] đó hơn chín (09) năm, năm ngoái lại đi khám xét [...]. Trần Đình Túc là người giỏi giang quen việc, tôi [:các bề tôi khác] không thể theo kịp được, nhưng về tục xứ ấy, tình người Man, thì Đình Túc chưa được hiểu rõ như thần. Xin cho thần đổi sung chức tuyên phủ sứ, và kiêm cả chức khuyến nông, phàm công việc nên làm ở bảo Trấn Lao, thì đốc sức cho huyện viên sửa sang; còn ruộng nương, việc trị thủy, đời sống của dân, điều lợi điều hại thì hội cùng với đạo thần [quan ở đạo Quảng Trị – nbs.]. Chức kinh doãn [phủ doãn Thừa Thiên – nbs.] có khuyết hoặc cho Trần Đình Túc kế thay, nhưng kiêm coi cả công việc doanh điền.

    Vua lại hỏi Trần Đình Túc, Túc cũng cho là phải, lại tự xin trông coi việc ấy tự trước đến sau.

    Vua cho là chức kinh doãn và doanh điền đều chưa có công hiệu, cũng chưa rõ được người [tức là Nguyễn Văn Tường – nbs.] có tài năng hay không, bèn sai điều giữ chức cũ. Trần Đình Túc thì kiêm biện cả nông điền thủy lợi ở Quảng Trị; còn các việc trọng đại về doanh điền của phủ đạo, nên cùng với Nguyễn Văn Tường thương lượng bàn định tâu lên, và hội đồng lựa chọn viên quản đạo, viên huyện”.


    Chúng tôi (TXA., nbs.) xin chép lại đoạn trích từ "Đại Nam thực lục, chính biên" (tập 30, sđd., số trang đã ghi ở dòng giới thiệu lời dẫn mở đầu chú thích này). Qua đó, để thấy rõ một số nét rất cơ bản về gốc gác, quê quán, nơi sinh trưởng và tinh thần tự nguyện, sẵn sàng rời bỏ cương vị cao, nơi kinh thành sang trọng, tiện nghi ở Huế để dấn thân vào chốn rừng sâu nước độc là Thành Hóa (Cam Lộ, Quảng Trị) của Nguyễn Văn Tường. Trước hết, thấy rõ Kì Vĩ phụ chánh đại thần, trung thần triều Nguyễn, người mưu trí và tài ba nhất của giai đoạn đầu chống Pháp:

    a. là người địa phương, từ lâu đời, tổ tiên từ ngoài kia sông Gianh vào sinh cơ lập nghiệp trước thời chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa trấn nhậm. Do đó, nguyên quán, nơi sinh trưởng là Quảng Trị (làng An Cư, huyện Đăng Xương [: Triệu Phong]).

    b. trải qua hơn chín năm làm tri huyện ở Thành Hóa (theo ĐNNTC., tập 1, sđd., tr. 103, đến 1853 mới đặt chức tri huyện ở vùng này).

    c. rất thông hiểu phong tục, tâm tình người nhân tộc thiểu số (Vân Kiều, Cà Tu, Pa-kô...) và cả người Lào xiêu tán. Như thế, Nguyễn Văn Tường chắc chắn rất giỏi tiếng nhân tộc (tiếng Thượng).

    Ngoài những lượng thông tin trên, vốn làm rõ hai chữ “bỉ ổi” (thô kệch, nơi biên ải xa xôi, quê mùa), chúng tôi xin nhân đây nhấn mạnh ngoài lề vài chi tiết khác:

    a’. Nguyễn Văn Tường xin từ chức phủ doãn ở Huế để chuẩn bị xây dựng chiến khu Tân Sở, khôi phục và mở thêm đường mòn từ Bình Định ra Nghệ An, từ thời điểm này [ĐNTL.CB., tập 31, tr. 86 - 87, tr. 89, tr. 103 (sáu điều tâu về Cam Lộ, lưu ý điều 2)].

    b’. Nguyễn Văn Tường từ chức phủ doãn còn vì lí do khác: lúc này nhân dân đang chết đói đầy cả đường kinh thành Huế (nhất là từ Quảng Nam, dân xiêu tán ra), mà Tự Đức vẫn cho tiến hành xây Vạn Niên cát địa (ĐNTL.CB., tập 30, sđd., tr. 131, 186).

    c’. Nguyễn Văn Tường được quyền cùng Trần Đình Túc chọn quan huyện, quan đạo (quan quản lí đạo Quảng Trị). Nguyễn Quýnh hẳn là người thuộc nhóm Nguyễn Văn Tường – Thân Văn Nhiếp nên được chọn làm quan quản đạo Quảng Trị (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 86 - 87).

    Đó cũng là những lượng thông tin về ông, giúp chúng ta hiểu hơn nghĩa của chữ trong văn ngữ cảnh cụ thể:

    Vi thần tàm bỉ ổi
    Đại tiết phạp kinh luân
    Lệ chí thường giai phủ
    Hòa trung túy nhược thuần
    ...
    Vạn niên ca đế đán
    Hân duyệt phổ thần dân.


    Bỉ: miền đất gần biên giới; quê mùa, thô lậu... [Bỉ nhân (tự xưng một cách khiêm tốn)].

    Ổi: quê mùa. Bỉ ổi: quê kệch.

    Vi thần (chữ khiêm xưng): kẻ bề tôi nhỏ nhoi.

    Ý nguyên cả câu lại ngược với hai chữ Kì Vĩ (lớn lao) mà Tự Đức phong tặng, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tư Giản và nhiều người khác ngợi ca.

    (17) Hòa: không cạnh tranh.

    Chữ “hòa” của nhà nho (hòa hợp với thiên nhiên, đồng loại; không oán trời, trách người...). “Hòa trung” (tấm lòng hòa mục) gắn liền với “đại tiết” (sự cứng rắn, sự giữ vững ý chí với bản lĩnh, nghị lực lớn) và “lệ chí” (ý chí được nấu nung, mài sắc). Nếu vận dụng vào tình hình chính trị lúc bấy giờ, thời điểm 1876, chữ “hòa” ở đây còn gắn liền với ý thức về thời cơ, chờ thời cơ thuận lợi trong nỗ lực tự cường (“đại tiết”, “lệ chí”) để đạt cho được các mục tiêu: sạch bóng quân xâm lược Pháp (liên minh ma quỷ với giặc Tây Ban Nha, phỉ Tàu, lợi dụng “tả đạo” Thiên Chúa giáo làm công cụ, có chia chác quyền lợi), độc lập dân tộc, bình đẳng với các nước trên thế giới, khát vọng dân giàu, nước mạnh... Do đó, quan niệm chữ “hòa” của Nguyễn Văn Tường khi ngồi thương thuyết (đàm phán) với bọn cướp nước, “tả đạo”, không phải là chữ “hòa” nguyên nghĩa, cho dù tư tưởng ông vẫn ở trong khuôn khổ của ý hệ phong kiến độc tôn Nho giáo thời Nguyễn (“Chu nguyên”, “Hán tái”... là biểu tượng lí tưởng hóa của ý thức sử học nho gia).

    Nguyễn Văn Tường vốn là một người chủ chiến, ý thức sâu sắc rằng chỉ có thể quét sạch quân xâm lược bằng vũ trang, nhưng lại biết linh hoạt, “hòa” một cách cơ nghi (sách lược thỏa hiệp tạm thời). Nguyễn Văn Tường từng viết rõ trong tấu, sớ đệ trình lên vua Tự Đức: Chiến – Hòa – Thủ – Chiến (“Chiến” là tiên quyết và tối hậu). (Xem thêm câu đối số 1, “Tự trào”, ở phần ngoài Thi tập, sách này).

    Chữ “hòa” của Nguyễn Văn Tường được hiểu như vậy, ở từng văn cảnh cụ thể và trong suốt toàn bộ tư tưởng nghệ thuật, tư tưởng kinh bang tế thế. Tư tưởng cốt lõi chủ đạo trong hoạt động chính trị và sáng tác của ông vẫn là chủ chiến.

    Mở thêm một ngoặc đơn: “Hòa trung” còn có nghĩa là: “Tấm lòng thành ấm áp, nồng hậu” (nên mới say nồng nàn như rượu ngọt dịu nhẹ). Dù với nghĩa nào, cũng gắn bó hữu cơ với “đại tiết”, “lệ chí”, “kinh luân”, “Chu nguyên”, “Hán tái” (biểu tượng được lí tưởng hóa)... Và câu trên dịch thành:

    “Ấm lòng say rượu ngọt”.

    (18) Quan niệm biện chứng về bản thể vũ trụ (Lí khí, Đạo) và cặp phạm trù bao quát nhất: Âm – Dương.

    (19) Nhà Chu, nhà Hán ở Trung Hoa ngày xưa, vốn là biểu tượng thái bình thịnh trị (lí tưởng hóa).

    56

    “NGÀY ĐẦU NĂM BÍNH TÍ (1876)”
    (hai mươi vần)

    Kính họa thơ hoàng đế Tự Đức

    1. Áo Vũ vững âu vàng
    Thềm Nghiêu: lịch ngọc sang
    Dương lại gặp chi Tiù
    Bính vừa đúng lúc Dần
    5. Vận đầu, được ba tốt
    Răm rắp, xuân triều quan
    Bùa đào tiễn năm cũ
    Thẻ giờ báo hé vàng
    Mặt trời, sao, đẹp cửa
    10. Đai hốt nghiêm hai hàng
    Thái hậu, thêm tuổi phúc
    Vua mừng mẹ, lời dâng
    Gương hiếu dành cho dân
    Trau đức, lòng vua mộ
    15. Điện sâu bay chim loan
    Hướng về, ấn thao đỏ
    Trước bình phong nghiêm trang
    Thị thần hô vạn tuế
    Như tân khoa: vua quan
    20. Lá quanh hoa: hoàng tộc
    Tiệc quỳnh, hương đọng ngọc
    Chén rượu ánh bạc tan
    Nội ngoại chia châu báu
    Vui ghi xuân nghìn năm
    25. Ơn huệ ban đều khắp
    Thấm nồng mọi nẻo đất
    Tạo hóa mở lượng sang
    Lòng trời ngụ ngự bút
    Suy sâu, mong giàu nước
    30. Làm tròn, tài sĩ dâng
    Tôi nhỏ, thẹn quê kệch (1)
    Tiết lớn thiếu kinh luân
    Chí hoài nung tim óc
    Lòng hòa say rượu ngọt (2)
    35. Rộng cao lẽ chuyển vần
    Xa bằng gần, cơ thuận!
    Ruộng Chu, nắng mưa nhuần
    Ải Hán, gió quét bụi
    Sớm vua, hát muôn ngàn
    40. Vui đẹp khắp thần dân.


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Lúc này Nguyễn Văn Tường đã được phong tước bá với mĩ hiệu là Kì Vĩ (lớn lao); ông tự hạ mình để khuyên nhắc vua một cách tự tin.

    (2) Xin xem chú thích (17) ở bản dịch nghĩa bài này.


    Cước chú của bài thơ số 56, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*) Bài tấu trên có câu: “Thần sinh trưởng ở đất [Quảng Trị – nbs.] ấy, trước kia đã làm tri huyện ở [huyện Thành Hoá – nbs.] đó hơn chín (09) năm, năm ngoái lại đi khám xét [huyện Thành Hoá cùng với Thân Văn Nhiếp – nbs.]…”. Có thể khiến người mới đọc qua hiểu rằng, Nguyễn Văn Tường sinh trưởng (sinh ra và lớn lên) ở Thành Hóa (Cam Lộ), Quảng Trị; rồi suy đoán thêm: có lẽ cụ thân sinh là Nguyễn Văn Diêu bị lưu đày lên Thành Hóa do một cuộc nổi dậy nhỏ (chống cường hào ác bá? lí tưởng, tri huyện áp bức?) như Yoshiharu Tsuboi ghi nhận từ cuốn sách của linh mục Nguyễn Văn Phong, xuất bản năm 1981 [NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 268]. Lại cứ theo mạch suy đoán ấy, sẽ cho rằng: vợ chồng cụ Diêu sinh và nuôi dạy Nguyễn Văn Tường ở đất ấy.

    Tuy nhiên, “thần sinh trưởng ở đất ấy” phải hiểu là “thần sinh trưởng ở đất [Quảng Trị – nbs.] ấy”, còn Thành Hoá (huyện biên ải) chỉ là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Trị.

    Căn cứ vào tư liệu Gia phả chi tộc Nguyễn Văn của Nguyễn Văn Tường và thơ của ông, ta thấy rõ: Thân sinh Nguyễn Văn Tường, ấy là cụ Nguyễn Văn Diêu (tên thường gọi là Dậu?), sinh năm Mậu ngọ, 1798, mất ngày 11. 3. năm Quý hợi, 1863, thọ 65 tuổi. Cụ Nguyễn Văn Diêu thuộc họ Nguyễn Văn ở làng An Xá Trung, huyện Đăng Xương (nay là An Cư, Triệu Phước, Triệu Phong), Quảng Trị. Và chắc chắn thân sinh của Nguyễn Văn Tường (cụ ông Nguyễn Văn Diêu, thân phụ, và cụ bà Dương Thị Liên, thân mẫu), ít ra phải có một vị là nho sinh, giỏi chữ. Bài thơ số 14, “Đắc báo nguyên tôn sinh”, có hai câu kết:

    Trung hiếu ngô môn bồi dưỡng hậu
    Miễn tai tố nghiệp các nghi đôn.


    Lòng trung, đức hiếu nhà (họ) mình vun đắp, nuôi dưỡng đầy đặn
    Gắng nhé! [Cố sức cho] truyền thống gia phong
    cao khiết, trong sạch [hoặc vốn có], [mọi điều,
    mọi người] đều [phải] nên trau dồi [dốc sức]

    Trung hiếu họ mình đầy đặn đắp
    Gắng trau nghiệp cũ, nếp ông cha!

    (bản biên soạn)

    Trung hiếu theo quan niệm nhà nho thời quân chủ, không thể thiếu yếu tố trung quân, và trung ở đây, rõ ràng là thống nhất với hiếu (hiếu với cha mẹ). Như thế, nếu bản chép tay của Pháp (AOM. Aix, Amiraux 12774, theo Nguyễn Văn Phong và Tsuboi, sđd., tr. 268) không sai về chi tiết này (*), thì có lẽ cụ thân sinh là Nguyễn Văn Diêu bị lưu đày lên Thành Hóa do một cuộc nổi dậy nhỏ, chống cường hào ác bá, lí tưởng, tri huyện áp bức, chứ không phải chống lại triều đình nhà Nguyễn.

    (*) Nhưng lại sai về chi tiết Nguyễn Văn Tường không được đi thi vì thân sinh “đã dính líu vào một cuộc nổi dậy” (sđd., tr. 268). Ông chỉ bị cấm thi sau sự cố chữ “phúc” (ĐNTL.CB., tập 24, tr. 163 – 165; QTHKL., sđd., tr. 297).

    Chùm thơ hai bài 57. 58

    CUNG HỌA NGỰ CHẾ THI NGUYÊN
    VẬN: “NHUẬN NGŨ NGUYỆT HỘ TỪ
    GIÁ HẠNH THUẬN AN TẤN”,
    NHỊ THỦ


    57: BÀI A

    Thánh tâm nhật dưỡng ái như niên (a)
    Thân sảnh cương phùng tái ngọ thiên
    Minh nguyệt lâm giang đương thủy tạ
    Huân phong thanh thử độ lâu thuyền
    Trân tàng cự tẩm cung hào thố (b)
    Lương phất trùng yên thị thực miên
    Trường ngưỡng nhất nhân hoan phụng ý
    Hỗ tòng chu tiếp tự vong quyên (1).


    (a) Phụng châu điểm: “Phê thường điển nhi vận bút giai cố diệu. Khâm thử”.

    (b) Phụng châu phê: “Diệc diệu vận. Khâm thử”.
    (1) [quyên?].
    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    57. 58

    KÍNH HỌA NGUYÊN VẦN THƠ NHÀ VUA
    LÀM: “THÁNG NĂM NHUẬN, THEO TỪ GIÁ (1) ĐI CHƠI CỬA BIỂN THUẬN AN (2)”,
    HAI BÀI

    57: BÀI A

    Tấm lòng thánh (3) [mỗi] ngày phụng dưỡng, thương yêu [mẹ] như [trọn các ngày trong] năm (a)
    Thư giãn, nghỉ mát, vừa gặp lại một lần nữa buổi trời trưa
    [này]
    Vầng trăng sáng chiếu xuống sông, ngay chính giữa nhà thủy tạ
    Ngọn gió lành lọc nắng, [gió] vượt qua [sông], [vào] thuyền có lầu gác
    Thức ăn quý cất trữ [trong] cái tẩm (: chằm, chum) lớn, [các thị tì] dâng lên món ăn thịt chặt cả xương, đồ hải sản lẫn lộn (b)
    Hơi mát thổi phất [qua] khói thuốc lá nằng nặng [bay (:bay lững lờ)]; [các thái giám] đứng hầu [nhà vua, thái hậu] bữa ăn, giấc ngủ
    Ngưỡng mộ một người [nêu gương] (4) đã lâu dài, bền bĩ, [đoàn tùy tùng] vui vẻ phụng vâng ý [thái hậu]
    [Mọi người] đi theo giúp đỡ, phục vụ, [lo] việc thuyền [rồng], chèo [quế], [nhà vua] tự quên cả mệt nhọc ưu uất.

    (1) Từ giá: xe của người mẹ nhà vua (thái hậu).

    (2) Xin xem chú thích (1), bài 58, bản dịch nghĩa.

    (3) Chỉ vua Tự Đức, người nổi tiếng có hiếu.

    (4) Vua Tự Đức rất ngưỡng mộ ông Đôn Di. Xem chú thích (8), bản dịch nghĩa bài 56. Theo văn cảnh: đoàn tùy tùng ngưỡng mộ đức hiếu của Tự Đức.

    (a) “Kính [nhận] nét điểm son đỏ [của vua Tự Đức]: “Phê [rằng]: Theo [loại] điển chế thường mà vận dụng hay, cho nên tinh diệu. Kính theo đó”.

    (b) “Kính [nhận] lời phê son đỏ [của vua Tự Đức]: “Cũng lại vận dụng tinh diệu. Kính theo đó”.

    57. 58

    “THÁNG NĂM NHUẬN
    THEO XE THÁI HẬU ĐI THĂM CỬA
    BIỂN PHÒNG THỦ THUẬN AN”,
    HAI BÀI

    57: BÀI A

    Kính họa thơ hoàng đế Tự Đức

    Lòng thánh phụng thờ ngày tựa năm (a)
    Trời trưa lại gặp, mát thân tâm
    Soi sông, thủy tạ ngời trăng ghé
    Lọc nắng, thuyền lầu lành gió thăm
    Cất quý tẩm to dâng cỗ béo (b)
    Phất êm khói lửng canh giường đằm
    Mãi noi một người vui vâng ý
    Quên nhọc, theo chèo, thị nữ chăm.


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (a), (b) Xin xem cuối phần chú thích của bản dịch nghĩa bài này.

    Chùm thơ hai bài 57. 58

    CUNG HỌA NGỰ CHẾ THI, NGUYÊN
    VẬN: “NHUẬN NGŨ NGUYỆT HỘ TỪ
    GIÁ HẠNH THUẬN AN TẤN”, NHỊ THỦ


    58: BÀI B

    Hải môn kha (khả) hạm giá ngao phi
    Biến phúc từ vân thử khí vi
    Quế trạo thuận lưu thanh tế tế
    Da lâm thùy ấm lục y y
    Sa đôi cổ lũy thăng thiên hiểm
    Pháo trĩ tằng đài phục viễn uy
    Thử địa duyệt phòng tiên hiếu trị
    Nam thiên vĩnh yết Vụ tinh huy.


    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm
    (và dịch thơ ở bài giới thiệu).

    57. 58

    KÍNH HỌA NGUYÊN VẦN THƠ NHÀ VUA
    LÀM: “THÁNG NĂM NHUẬN THEO XE THÁI
    HẬU ĐI THĂM CỬA BIỂN PHÒNG THỦ
    THUẬN AN (1)”, HAI BÀI

    58: BÀI B

    [Ở] cửa biển, thuyền lớn, thuyền binh, xe vua [như đàn] rùa biển tung bay
    Xem trọn (ôm khắp) [là] mây an lành, không khí sớm mai dịu nhẹ
    Chèo quế (3) theo dòng [nước], [tạo] âm thanh nho nhỏ
    Rừng dừa cúi bóng râm, màu xanh lá [nối] theo màu xanh lá
    Cát dồn [lên] lũy xưa, vươn [lên] trời [thế] hiểm trở [cho địch]
    Súng dựng [ở pháo] đài nhiều tầng, làm nên sự oai phong [cực kì] dài rộng
    Đất này, [vua] duyệt xét sự phòng thủ, [lấy] đức hiếu [làm] đầu để sửa trị (4)
    Trời [nước] Nam mãi mãi tỏa bày ánh sáng sao Vụ (5)!

    (1) Thuận An: cửa biển, các đồn hải phòng ở Thừa Thiên – Huế (cửa sông Hương). Xin xem Chuyện triều Nguyễn, sđd., tr. 102 - 122, các bài: “Thuận An”, “Công cuộc phòng thủ miền duyên hải”, “Một cảnh đau lòng”; ĐNNTC., tập 1, sđd., tr. 174 - 175.

    (2) Trạnh: con rùa lớn ở biển.

    (3) Chèo quế: chèo bằng gỗ quế; cũng là một cách dùng mĩ từ, chỉ chèo ở thuyền rồng (thuyền vua).

    (4) Theo quan niệm phong kiến Nho giáo, sĩ, dân và lính cũng phải giữ đạo hiếu với vua, như con cái hiếu với cha mẹ.

    (5) Sao Vụ: một loại sao (chưa rõ ý nghĩa là gì). Tên đầy đủ là sao Vụ Nữ (*). Có lẽ tác giả muốn nói đến đức tính của vua Tự Đức là luôn có hiếu với mẹ, chăm lo, yêu thương các bà vợ (!). Cũng có thể thấy vai trò tích cực của bà Từ Dũ, ít ra là trong giai đoạn này (tổ chức phòng thủ...). Ngôi sao chiếu mệnh của Tự Đức có tên là Từ Dũ (cũng đọc là Từ Dụ)! Bà gần như một thái thượng hoàng!

    Lời sách văn tấn tôn danh hiệu “Từ Dũ thái hoàng thái hậu”, vào tháng ba âm lịch năm Ất dậu (1883), có câu: “Băm sáu năm treo cao gương mẹ, bóng Vụ tinh soi sáng bao lần” (ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 205).

    57. 58

    “THÁNG NĂM NHUẬN, THEO XE THÁI
    HẬU ĐI THĂM CỬA BIỂN PHÒNG THỦ
    THUẬN AN”, HAI BÀI

    58: BÀI B

    Kính họa thơ hoàng đế Tự Đức

    Thuyền xe cửa biển: trạnh rồng bay
    Trông khắp, mây lành, nắng dịu thay
    Chèo quế theo dòng, êm mát tiếng
    Rừng dừa rủ bóng, ngát xanh cây
    Cát dồn lũy cổ, vươn đồ hiểm (1)
    Súng dựng đài cao, dàn trận oai
    Chốn ấy, khám đồn, dùng hiếu sửa
    Trời Nam sao Vụ sáng ngời hoài.


    (bản biên soạn)

    (1) Có thể dịch thoát cách khác:

    Cát dồn lũy cổ, vươn cừ vững
    Súng dựng đài cao, giăng xích oai


    “Cừ” không chỉ là các thanh cây làm nòng cốt cho việc đắp lũy, mà còn là những thanh gỗ cắm xuống lòng sông để ngăn chặn tàu thuyền giặc. “Xích” cũng được giăng ngang sông để cản tàu địch tấn công. Tuy nhiên, chữ “đồ” đối với chữ “trận” (theo từ ghép “trận đồ”) cũng khá đạt.


    Cước chú của chùm thơ bài số 57, 58, bài B (58), thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*) Chữ “Vụ” gồm chữ “vụ” là “công việc, chuyên chăm” (thiếu bộ lực), và chữ “nữ” là “phụ nữ” [một chữ chỉ nghĩa, một chữ chỉ âm đọc]. Chữ “Nữ” vẫn được ghép thêm với chữ “Vụ” vừa chiết tự. Cả hai chữ thành từ ghép chính phụ: Vụ Nữ (: người phụ nữ chuyên chăm theo công việc phù hợp với sức lực yếu đuối của đàn bà). [Xem: Thiều Chửu, HVTĐ., sđd., tr. 60, 131].



    Bài 59

    HẠNH THÚY VÂN SƠN


    1. Thúy Vân hà xứ thị
    Đột ngột quần phong tiền
    Quần phong nhất tề hạ
    Độ thủy độc hoành phiên
    5. Hành cung bàng kì trắc
    Linh tích trĩ kì điên
    Đôi nhiên ngọa thạch lão
    Sâm nhiên cổ (a) mộc tiên
    Lục âm vô hạ thử
    10. Thúy sắc hữu xuân yên
    Điểu ngữ thần chung minh
    Tịch dương mê (mi) lộc miên
    Hoàn liệt mạc phỉ sơn
    Thúy Vân hà kì nhiên
    15. Thẩn hữu thần thao chu
    Nhất hoằng thanh thả nghiên
    Thừa hứng phục đăng lâu
    Nhất đới lạc bình điền
    Mỹ tai danh thắng địa!
    20. Thần du lịch hữu niên
    Ngự kiều liễn lộ xứ
    Cửu dĩ tĩnh trần quyên
    Phùng kim hạ ngũ nguyệt
    Tích (b) dư nguyệt phục viên
    25. Thiên tử mệnh duyệt vũ
    Chu sư hàm tỉ kiên
    Triêu phát Hương Giang tân
    Tiền hậu như thiền liên
    Vãn khai Thuận Trực áp (sạp)
    30. Thiều thiều vân thủy thiên
    Vạn trạo phù trung lưu
    Quân khí mộ ích kiên
    Chu khinh phong tự sinh
    Phong vi thủy tự liên
    35. Thúy Vân tiệm giác cận
    Ngật lập như trữ diên
    Đăng hoa thủy tạ mãn
    Nhiêu (nghiêu) tử nghỉ lâu thuyền
    Tiên trượng quang như họa
    40. Bồng đảo bất tiêu thiền.


    (a) Phụng châu điểm.

    (b) Phụng châu điểm.

    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm...
    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    59

    NHÀ VUA ĐI THĂM NÚI THÚY VÂN (1)

    1. Thúy Vân, [núi] ấy ở đâu?
    Cao ngất một mình [giữa] những ngọn núi phía trước
    Những ngọn núi cùng một lần hạ thấp xuống
    Vượt qua mặt nước chỉ một mình [núi ấy] đứng ngang, có vẻ dáng phong lưu, văn nhã
    5. Cung để vua đi thăm ghé nghỉ (2) ở bên cạnh, chênh chếch với nơi ấy
    Dấu tích linh thiêng đứng lẻ loi [ở] đỉnh cao nơi ấy
    Chất chồng nhưng nằm [kề nhau]: đá tảng cứng bền (già nua)
    Rậm rạp, ấy là cây cối lâu đời (a) [vẫn] rắn chắc (tươi đẹp)
    Màu xanh lá, bóng râm [như làm cho] nắng mùa hè không có
    10. Sắc biếc có khói (sương) mùa xuân!
    Tiếng nói [của] chim chóc [cùng] tiếng chuông [của] cung vua vang lên
    Buổi chiều hôm, hươu nai [đến] ngủ
    [Quân] vây quanh, giăng bày [dù] núi không có kẻ cướp
    Mây biếc sao biếc thế!
    15. Huống chi những chiếc thuyền duyệt binh [cũng] có
    tâm hồn
    Nước rộng mà sâu, trong vắt, thanh thản, đẹp tươi [như] một
    Nhân lên niềm hứng khởi, [ta] theo lên lầu
    Một dải [đất cơ hồ] rơi xuống [thành] ruộng đồng bằng phẳng
    Đẹp tươi thay [cõi] đất danh thắng!
    20. Cung vua (3) đi trải nghiệm [nơi đây] (trải qua) [dễ] có [cả] năm [trời]
    Cầu vua đi, đường xe vua qua [ở] cõi [này]
    Lâu rồi vốn dĩ tĩnh lặng, sạch bụi
    Gặp nay, tháng năm mùa hè
    Dấu xưa (b), trăng lại tròn
    25. Đấng con trời ra lệnh duyệt võ (: duyệt quân)
    Đoàn lính [thủy, giang] thuyền, tất thảy đều sánh nhau, chen [vai]
    Sáng sớm xuất phát ở bến sông Hương
    Tiền quân, hậu quân như đàn ve ve nối nhau
    không dứt
    Buổi chiều mở đập Thuận Trực (4)
    30. Cao vót, xa xăm [là] mây, nước, vòm trời
    [Hàng] vạn mái chèo nổi [lướt] giữa [dòng sông] chảy
    Khí thế quân lính, buổi chiều, càng thêm vững mạnh
    Thuyền nhẹ [lướt], gió như [do thuyền mà] tự tạo ra
    Gió nhẹ [thổi], nước cơ hồ [do gió mà] tự lan sóng
    35. [Núi] Thúy Vân dần dần thấy gần lại
    [Núi] đứng nghiêm như chờ đón đã lâu
    Hoa đèn đầy nhà thủy tạ
    Những chàng trai, cô nàng hái củi đậu thuyền [kề] thuyền lầu (5)
    Gươm, đao, gậy, côn [của] tiên, đạo sĩ [múa lên], ánh sáng [tóa ra] như [bức] tranh vẽ
    40. Đảo Bồng (6) [vẫn] không mất [nét] thiền [tâm] (7).

    (1) Núi Thúy Vân (Túy Vân), tỉnh Thừa Thiên - Huế. Xem chú thích (1), bản dịch nghĩa bài 60.

    (2) Hành cung Thúy Vân (xem ĐNNTC., sđd., tập 1, tr. 52).

    (3) Cung vua: chỉ chung cả vợ và con (nếu có), cùng các thái giám, thị tì đi theo vua.

    (4) Thuận Trực, cách kinh thành 15 km, bên bờ sông Lợi Giang, có một khu rừng cấm có tên ấy. Chắc trùng tên với hành cung được nhắc đến, vốn ở xã Hà Trung, huyện Phú Lộc, xa hơn nhiều (xem chú thích của Viện Sử học, tập 31, sđd., tr. 258).
    Nếu không phải là địa danh, xin tạm dịch: “Buổi chiều mở xuôi thẳng [dòng nước qua] đập”. Áp (còn đọc là sạp): đập nước chắn ngang sông, chỉ có một cánh cửa, khi mở đủ cho từng chiếc thuyền đi qua (nên chiếc này, chiếc kia nối nhau; đứng ở xa, trên đồi cao, trông như đàn ve nối đuôi nhau trên cành cây), [HVTĐ., sđd., tr. 719].

    (5) Đây là một chi tiết khá lạ, bởi thời phong kiến có luật “phạm tất” (vi phạm lối cấm hay chỗ cấm lúc vua đi hoặc ghé lại). Có lẽ là hình ảnh mộng tưởng “Hoa Tư” (xem chú thích (9) bản dịch nghĩa bài số 55), hoặc “nghiêu tử” đây là các vị sư (xem từ “tiên trượng”, từ “Bồng đảo”, “thiền” ở hai câu dưới).

    (6) Đảo Bồng: đảo Bồng Lai, một trong ba ngọn núi của tiên cảnh Bột Hải, có tính chất thần thoại.

    (7) Xin lưu ý câu cuối này. Suốt bài thơ diễn tả sự hùng tráng của quân lính, nhưng kết thúc bằng một nét thanh tịnh ở cõi bồng lai của đạo Phật – cõi hiện thực. Vì sự thanh tịnh mà hùng tráng; hùng tráng để cho tâm và cảnh thanh tịnh trong ánh từ bi. Thanh tịnh, từ bi cùng với hùng tráng, với ý chí, quyết tâm diệt giặc ngoại xâm là hai mặt của một chỉnh thể tâm thức Phật giáo Việt Nam cổ truyền: “Đại hùng, đại lực, đại từ bi”.

    Ngày nay, thế giới hầu như đi vào chiến tranh kinh tế. Do đó, phải hùng mạnh cả về kinh tế, chứ không chỉ quốc phòng, mà then chốt vẫn là khoa học - kĩ thuật (công nghệ).

    (a) “Kính [nhận nét] điểm [bằng bút] son [của vua Tự Đức]”.

    (b) “Kính [nhận nét] điểm [bằng bút] son [của vua Tự Đức]”.

    59

    NHÀ VUA ĐI THĂM NÚI THÚY VÂN

    1. Nơi đâu là Thúy Vân
    Riêng vút giữa dãy trước
    Dãy núi, thấp một lần
    Vượt nước, một núi văn
    5. Cạnh hành cung, chênh chếch
    Dấu đỉnh lẻ, linh san!
    Đá xưa chồng, nằm vững
    Cây cổ (a) rậm đẹp ngàn
    Bóng xanh không nắng hạ
    10. Sắc biếc ngút khói xuân
    Lời chim, chuông sớm vang
    Nắng chiều, hươu nai ngủ
    Không phỉ núi, quân giăng
    Thúy Vân! Thúy Vân!
    – mây biếc – sao biếc thế! (1)
    15. Thuyền thao luyện có tâm
    Nước sâu, trong một vẻ
    Lên lầu, hứng càng nhân
    Một dải rơi: ruộng bằng!
    Đẹp quá nơi danh thắng!
    20. Năm nay vua hoài thăm
    Đường vua, cầu vua sang
    Đã lâu sạch bụi lá
    Gặp nay tháng năm hạ
    Dấu xưa (b) lại tròn trăng
    25. Lệnh duyệt quân, vua ban
    Sánh vai, thế lính vững
    Sớm, từ bờ Hương Giang
    Đàn ve: tiền, hậu quân!
    Chiều, mở đập Thuận Trực (2)
    30. Trời, mây, nước mênh mang
    Vạn chèo trên dòng lướt
    Hùng khí chiều hiên ngang
    Gió tự sinh, thuyền vút
    Gió khẽ, sóng tự lan
    35. Dần đến gần Thúy Vân
    Núi đứng nghiêm đợi đón
    Thủy tạ đèn hoa giăng
    Ghe tiều ghé thuyền tầng
    Như tranh, gươm bụt múa
    40. Đảo Bồng: thiền không tan!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Có thể rút gọn câu này lại, theo thể 5 chữ:

    “Mây biếc sao biếc thế!”.

    hoặc:

    “Thúy Vân, sao biếc quá!”

    (a), (b) Xin xem ở cuối phần chú thích của bản dịch nghĩa bài này.

    (2) “Chiều, mở đập xuôi thẳng”. Xin xem chú thích (4) của bản dịch nghĩa bài này.



    Bài 60

    THÚY VÂN SƠN


    Phụng châu phê:
    “Tự toàn hảo. Khâm thử!” (a)

    Bất đồng linh thái duy nam củng
    Thiên tráng thần cư tác thử sơn
    Chướng (b) khứ hoành lan ngư phiếm ổn
    Ấm lưu cổ thụ điểu quy nhàn
    Viễn khan yêm ái vân thiên tụ
    Cận ấp trừng thanh nguyệt nhất loan
    Tự (c) tích thắng du đa thử địa
    Cửu trùng tâm sự trấp niên gian.


    (b), (c) Phụng châu điểm.

    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    60

    NÚI THÚY VÂN (1) (a)

    [Tuy] không [lớn] bằng núi Linh Thái, [song núi Thuý Vân]
    vẫn chầu về [phương] Nam
    [Dưới] bầu trời hùng tráng, cung vua ở (tọa lạc), [tận sâu xa, chính điều đó đã] tạo nên ngọn núi này
    [Ấy là] tấm bình phong (b) loại trừ [các đợt] sóng lớn [tiến vào hàng] ngang, dân đánh cá lênh đênh [trên đầm phá một cách] yên ổn
    [Núi có] bóng mát đọng lại [ở bao] cây cổ xưa (: cổ thụ), chim chóc [bay] về nhàn nhã
    Nhìn xa xa [trông như] ướp muối [trắng], [hơi mây]
    ngùn ngụt, mây [che trên] ngàn ngọn núi
    Lui [lại], gần gũi, [thấy] trong lặng, xanh biếc [như lọc],
    [ánh] trăng [trải khắp] một đầm phá
    Từ (c) trưóc, đã đi ngắm cảnh đẹp nhiều [lần ở] đất này
    [Vẫn biết] nỗi lòng [của] cửu trùng (3) [trong] thời gian hai mươi năm.

    (1) Núi Thúy Vân, thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế. ĐNNTC., sđd., tập 1, tr. 130 ghi: “Ở phía đông bắc huyện Phú Lộc; phía tây núi kề phá Hà Trung; trước [núi này] gọi là Mĩ Am, năm Minh Mệnh thứ 6, cho tên là núi Thúy Hoa, năm Thiệu Trị thứ 1 đổi tên hiện nay; có bài bia ghi thắng tích Thúy Vân”.

    (2) Linh Thái còn là tên khác của núi Quy Sơn (núi Ruà) [ĐNNTC., tập 1, sđd., tr. 130 - 131).

    (3) Cửu trùng: chín tầng; chỉ nhà vua.

    (a) “Kính [nhận] lời phê bằng mực son đỏ [của vua Tự Đức]: “Gần như hay đẹp hoàn toàn. Kính vâng [theo] đó [nhé]!””.

    (b) “Kính [nhận] điểm nét son đỏ [của vua Tự Đức]”.

    (c) “Kính [nhận] điểm nét son đỏ [của vua Tự Đức]”.

    60

    NÚI THÚY VÂN (a)

    Không cùng Rùa thánh, nam chầu đây
    Vua ở, trời hùng tạo núi này
    Dải (b) chặn sóng ngang, buồm thả ổn
    Bóng lưu cây cổ, chim nhàn đầy
    Ướp mờ xa ngắm nguồn mây tỏa
    Lọc biếc gần lui phá nguyệt say
    Từ (c) trước viếng hoài miền cảnh đẹp
    Hai mươi năm! Lòng vua chưa phai...


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (a), (b), (c) Xin xem cuối phần chú thích của bản dịch nghĩa bài này.

    (1) “Lòng vua, hai chục năm, chưa phai…”.

    Hoặc:

    “Lòng vua hai kỉ cứ buồn cay… ”.


    Bài 61

    TƯ HIỀN TẤN


    Bình thành Vũ tạc sơ
    Trạch quốc điện môn lư
    Liễu nhiễu quần phong bão
    Oanh hồi nhất thủy từ
    Hà Trung thu tích hậu
    Thuận tấn chuyển lưu thư
    Ba ổn trung lưu tiếp
    Phàm quy viễn phố ngư
    Trùng dương thông nhãn xứ
    Vạn hác củng Triều dư
    Vi (vị) (a) báo hoàn trung thủy
    Mang mang hải lượng hư.


    Phụng châu phê: Nhĩ thức lực giai khả đáo, bất chuyên cử nghiệp dĩ dã; đãn bạc, chi bất vi, nhĩ diệc bất hạ dã; hà xích, phiền; nhị thủ giai vô tì, vô biểu hiện (kiến).

    Khâm thử!
    (b)

    (a) Phụng châu điểm.

    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm
    (và trích dịch ở bài giới thiệu).
    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    61

    CỬA BIỂN HẢI PHÒNG TƯ HIỀN (1)

    [Công] bình định, làm nên (2)
    [của] vua Vũ (3) là đã rạch ròi, thông suốt [bờ cõi]
    Ơn huệ [của] nước [là đã giúp dân] vững chãi nhà cửa
    Những ngọn núi quanh co, vấn quanh, ôm lấy
    Con suối [nhỏ] vòng quanh lại [một dòng nước] chậm rãi
    [Phá] Hà Trung (4) thu lấy, dồn chứa đầy ắp
    Cửa hải phòng Thuận [An] chuyển động,
    tuôn chảy thư thả
    Sóng êm ả, giữa dòng [là thuyền với] mái chèo
    [Các] cánh buồm quay về bến cá xa
    Biển cả (: trùng dương) [là] nơi mở thông [tầm] mắt
    Nước khe núi, ao hồ chầu về ư?
    Bởi (a) [muốn] báo đền trong cõi hoàn vũ (cõi đất trời) [bằng] nước
    [Nên] lai láng, xa xăm; lượng biển (sức chứa của biển, tấm lòng của biển) [thế đấy mà cũng như thể] không có gì (: hư vô)! (b) (5)

    (1) Thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế. Xem chú thích (2), bản dịch nghĩa, bài 63.

    (2) Bình thành: do bốn chữ “địa bình thiên thành” (sửa sang, tổ chức lại việc dưới đất; làm cho nên, cho an ổn sự lệ trên trời). Nghĩa bóng: sửa trị mọi việc quan trọng. [Bửu Kế, TĐTNTN., sđd., tr. 71].

    (3) Vua Vũ ở Trung Hoa cổ đại, lập nên nhà Hạ.

    (4) Cửa biển phòng thủ Thuận An và Tư Hiền thuộc đất kinh sư (thủ đô, Thừa Thiên – Quảng Trị) do triều đình trực tiếp quản lí, chỉ đạo. Xem chú thích (1) về cửa Tư Hiền, bản dịch nghĩa bài thơ số 58 và chú thích (2) bài số 63.

    (5) Khái niệm “hư vô” của Lão Tử. Xin xem chú thích (5) của bản dịch nghĩa bài số 34 và chú thích (13) ở bản dịch nghĩa bài số 65.

    (a) “Kính [nhận] điểm bút son [của vua]”.

    (b) “Kính [nhận] lời phê bút son [của vua]: “Kiến thức của ngươi đều thấu đáo, [nên nói] không chuyên về dạng chỉ học cốt để thi cử mà thôi, là phải vậy! [Nhưng] chỉ một mình [ngươi làm thơ] ít ỏi; ấy là [bởi] không [chịu] làm; vậy cũng thật [ngươi] cũng không được rảnh rỗi. Sao một thước [chữ = một, hai cột chữ thôi]? Bận việc quá ư? Hai bài đều không có tì vết gì, [nhưng] cũng không lộ liễu gì [tức là ý tứ kín đáo; sâu kín là ưu điểm trong thơ]! Kính vâng đấy nhé!”” – [Lời châu phê của vua Tự Đức].

    Hẳn nhà thơ Nguyễn Văn Tường không chỉ bận công việc của một thượng thư Bộ Hộ, Thương bạc đại thần (phụ trách ngoại giao), mà ông còn bận lòng cho những bài thơ tâm huyết của mình. Thơ thù tạc, đúng hơn là thơ “tụng ca”, làm để xướng họa với đế vương, hẳn là quá đỗi... khó lòng!

    61

    CỬA BIỂN HẢI PHÒNG TƯ HIỀN

    Bình thành như Vũ thưa
    Ơn nước, xóm vàng mùa
    Núi lượn từng cung ấp
    Khe vòng một suối thư
    Hà Trung thu chứa mộng
    Cửa Thuận chuyển xuôi mơ
    Chèo rẽ dòng sóng lặng
    Buồm về bến cá mờ
    Bể khơi thông mắt đấy!
    Ngòi lạch chầu triều ư?
    (a) Đền đất trời: tình nước
    Biển lòng rộng hư vô! (b)


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (a), (b) Xin xem cuối phần chú thích của bản dịch nghĩa bài này.



    Bài 62

    NGUYÊN ĐÁN TẢO CỨ QUẢNG YÊN
    TUẦN PHỦ HỒ TRỌNG LIỄN MÃ ĐỆ
    TRIỆP TỰ QUAN BINH ĐẠP BÌNH
    PHÙ LONG PHỈ SÀO,
    NHÂN CHÍ KÌ SỰ


    1. Ngã hoàng phủ thử chước khoan nghiêm
    Thiên đạo âm dương hỗ hiển tiềm
    Hàn uy phủ khước đông tiền lạp
    Xuân dương dĩ phổ nhân đồng chiêm

    5. Lí đoan vạn tượng chính tân sảng
    Si mị tận tiêu thiên nhật lãng
    Đình liệt bái khánh sâm y quan
    Thúc văn tiệp tấu bình tặc đảng

    Tu lai mã đệ Quảng Yên đồng
    10. Hỉ kiến biên thần tự chiến công
    Ngưỡng duy miếu đường thụ thành toán
    Kháp triï thái vận phương hưởng thông

    Ngã quốc hải đông dữ Thanh tiếp
    Nhất đới cát đồ (1) liên u chung
    15. Thanh lại kế cùng lân vi hác
    Trì ngư vô đoan tao bỉ hung

    Thanh tướng lưỡng lâm vô thốn hiệu
    Đạn nan chung thị di khấu sao
    Kình huyệt thố quật một gian xuất
    20. Niên lai biên manh khổ náo sao

    Thuấn đức đản phu giác giã mê
    Tự tây tự đông ngật (cật) thanh giáo
    Tranh nại động đình chướng kí thâm
    Nan cách nhĩ tâm dịch nhĩ mạo

    25. Chu sư ninh hoãn tiêm cừ khôi
    Phù Long nhất cổ thiên hiểm thôi
    Tướng biền dụng mệnh vô kiên địch
    Thanh linh hách trạc võ công khôi

    Kỉ công hựu thích hành khánh điển
    30. Phàm bách nhung thần thị chi miễn
    Thùy vị ba đào bất khả khai
    Vạn lí trùng dương tương tận quyển

    Vãng phục hóa cơ thuấn tức chuyển
    Tương cơ yếu tại lượng thâm thiển
    35. Tự cương duy thánh thể càn nguyên
    36. Ngu thần thiết nguyện sách nô kiển (2).



    Tự Đức nhị thập bát niên, chính nguyệt, nhị thập nhật, thần Nguyễn, phụng ứng chế (a).

    (1) Cát Bà, Đồ Sơn?

    (2) [kiển? trại?].

    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm
    (và trích dịch ở bài giới thiệu)
    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    62

    SÁNG SỚM NGUYÊN ĐÁN, THEO TUẦN
    PHỦ QUẢNG YÊN (1) HỒ TRỌNG LIỄN (2)
    [QUA] NGỰA [TRẠM] ĐỆ TRÌNH TẬP TÂU
    [VỀ VIỆC] QUAN QUÂN DẸP YÊN Ổ PHỈ
    [TẠI] PHÙ LONG (3), NHÂN [ĐÓ] GHI CHÉP
    [LẠI] VIỆC ẤY

    1. Vua ta vỗ về [giặc] ấy [để tình hình yên ổn],
    lường liệu, châm chước giữa khoan thứ
    [và] nghiêm khắc
    Đạo Trời, âm [và] dương cùng [tác động] lẫn nhau, hiển hiện hoặc ẩn kín
    [Sự] oai nghiêm lạnh lùng vừa xua đuổi mùa đông trước [tháng] cuối [năm]
    Ánh sáng mùa xuân đã [tỏa] khắp, [mọi] người cùng ngẩng mặt mà trông
    5. [Việc] sửa trị [một cách] ngay thẳng vạn điều (phép tắc) [cho] đúng đắn, mới mẻ, sáng sủa
    Ma quỷ tan hết, ánh ngày [của] bầu trời tươi sáng
    Sắp hàng ngang [ở] triều, [các quan] lạy mừng, áo mão quan viên nghiêm chỉnh
    Bất chợt, nghe tin báo về, tấu trình [đã] bình định bè đảng giặc phỉ
    Bỗng ngựa [trạm] (4) đệ trình cái ống tre [đựng công văn của tỉnh] Quảng Yên (3)
    10. Vui mừng thấy kẻ bề tôi [ở] biên ải trình bày
    chiến công
    Ngẩng mặt suy tưởng (= kính nghĩ), triều đình trao cho kế sách [để] làm xong việc [dẹp phỉ]
    Vừa đúng gặp được vận tốt [nên] mới hưởng sự vẻ vang (thông đạt)
    Phía đông biển nước ta với [biển nước] Thanh (5) [ranh giới] liền [nhau] (6)
    Một dải [đất], loại cây cỏ leo bò [trên đất], bùn sình [cùng liền], liền [cả tiếng] chuông sâu lắng
    15. Quan lại [nhà] Thanh tính hết kế [vẫn để tình] láng giềng thành ao, lạch (hang hốc)
    Cá ao, không nguyên cớ (vô cớ), gặp phải
    sự hung ác kia (7)
    Tướng [nước] Thanh hai lần vào [trận], không [một] tấc (8) hiệu quả
    Ngại [trước] khó khăn, cuối cùng, [chính việc] ấy [đã] để sót bọn giặc cướp bóc
    Hang cá kình, hang thỏ, mở (đào) ra [nơi] chìm khuất (hầm ngầm)
    20. Năm qua, dân biên ải đi ngang [phải] đắng [cay],
    náo động
    Đức [của] vua Thuấn (9) [hóa ra là] sự lừa dối đủ [cách], mê mờ ấy là tỉnh táo!
    Từ phía tây, từ phía đông không còn cả dự dạy dỗ [dù chỉ dạy dỗ bằng] tiếng nói!
    Vì sao tranh đoạt [từng] cái hang, [từng] cái sân,
    [từng] bức bình phong? [Sự việc này đã được] ghi khắc sâu đậm
    Khó thay đổi được tâm địa chúng mày, gương mặt [hay hình tượng (10)] chúng mày
    25. Sư đoàn (quân lính) [lần lượt thay phiên theo]
    chu kì (11) cớ sao lại ngừng việc giết sạch
    bọn đầu đàn (thủ lĩnh của phỉ)?
    Một chiếc trống Phù Long [cũng là] muôn vàn [thế trận] hiểm độc xô lấp [hang ổ ở núi]
    Tướng võ vâng mệnh lệnh [vua ban], không còn quân địch vững mạnh
    Oai linh [của] giọng tiếng, sự rửa [hờn] hừng hực lửa, công lao chiến đấu bậc nhất [của tướng sĩ ta]!
    Ghi chép công lao lại đúng dịp tiến hành điển
    lễ vui mừng (12)
    30. Hễ là [người thuộc vào] hàng trăm quan võ bề tôi, [được] báo cho biết để ra sức
    Ai bảo sóng lớn không có thể loại bỏ
    (làm êm lặng) được?
    Vạn dặm biển trùng trùng sắp sửa cuốn sạch tất thảy [bọn giặc đầu sỏ]
    Đi qua – trở lại [theo lẽ âm dương tuần hoàn], cái máy chuyển hóa (: máy huyền vi) (13), [trong] chớp mắt, [trong một nhịp] hơi thở, [sẽ] chuyển xoay
    Cùng với cái máy [tạo hóa] (13), [việc] trọng yếu còn [phải] đo lường nông hay sâu
    35. Tự mình [ở] chỗ giới hạn [của mình mà] suy nghiệm:
    thánh thể (14) [nhà vua là] khởi đầu
    của quẻ Càn (15)
    36. Kẻ bề tôi ngu muội (16) trộm mong mỏi
    [tự] thúc roi con ngựa xấu chậm chạp.

    (1) Tỉnh Quảng Yên thời Nguyễn, nay thuộc Quảng Ninh.

    (2) Hồ Trọng Đỉnh (xem ĐNTL.CB., sđd., tập 33, tr. 159).

    (3) Phù Long (tên một hòn đảo), thuộc tỉnh Quảng Yên xưa (xem ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 32).

    (4) Ngày xưa, để đưa công văn và tiện cho nhiều việc khác của nhà nước phong kiến, người ta thiết lập các trạm dọc đường, phương tiện là ngựa, gọi là ngựa trạm.

    (5), (6) Biển Bắc Bộ, ngoài khơi xa, có hải phận của đảo Hải Nam thuộc Trung Hoa. Trung Hoa bấy giờ là Đại Thanh.

    (7) Cách nói ẩn dụ: nhân dân ta (cá ao) trước hiểm hoạ là bọn giặc phỉ, tàn dư Thái Bình thiên quốc Tàu.

    (8) Tướng Thanh: Phùng Tử Tài, Đảng Mẫn Tuyên... Một tấc thước ta: 4 cm; tức là một chút, một tí...

    (9) Vua Thuấn: vua nhà Ngu bên Tàu, thời cổ xưa. Ở đây là chỉ quân Thanh với ý mỉa mai.

    (10) Chỉ bọn giặc Cờ (tàn dư của Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Hoa). Xin xem chú thích (2) bản dịch nghĩa bài 4.

    (11) Vua Chu? Chữ “chu” là chu kì? Với nghĩa nào cũng nhằm chỉ quan quân thuộc triều Nguyễn nước ta. Vua Chu, thuộc cổ đại Trung Hoa, vốn là biểu tượng cho minh quân, được lí tưởng hóa.

    (12) Dịp mừng xuân Ất hợi, 1875 [xem chú thích (2) phía trên]. Dịp này, Tự Đức có làm một bài thơ về chiến thắng ở Phù Long.

    (13) Quan niệm về tạo hóa của nho sĩ ngày xưa. Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc đã từng viết về “cơ trần”:

    “Máy huyền vi đóng mở khôn lường...”
    (CONK., d. 50)

    “Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán...”
    (CONK., d. 73)

    “Cái quay búng sẵn trên trời...”
    (CONK., d. 91)

    Ở đây, nhà thơ Nguyễn Văn Tường quan niệm theo lẽ biến dịch âm – dương của Kinh dịch, một quan điểm biện chứng Phương Đông (xem lại câu 1, 2).

    (14) “Thánh thể” (thân thể của bậc thánh, thần), từ tụng xưng quy ước về “lễ” (một giềng mối lớn, thường hằng, trong tam cương, ngũ thường). Đây là “lễ” trong cách xưng hô trước “thánh thượng”, “thiên tử” của kẻ bề tôi (hạng tôi tớ) (!). “Trẫm”, lại là đường chỉ khâu áo giáp cho binh tướng.

    (15) Quẻ Càn tượng trưng cho Trời, ở đây chỉ nhà vua. Xem chú thích (14), bên trên.

    (16) “Ngu thần”, từ tự khiêm xưng của quan lại trước vua. Các kẻ sĩ, quan chức nho giáo còn dùng các từ như “bỉ nhân” (kẻ quê mùa), “thiểm” hoặc “thiểm chức” (người làm quan biết nhục nhã, xấu hổ) khi nói với kẻ dưới phận, dưới chức, so với bản thân. Đó là tập quán văn hóa ở Đông Nam Á. [Xem TĐTV., sđd., tập hạ, tr. 404].

    (a) Lời tác giả Nguyễn Văn Tường cuối bài thơ:
    “Ngày 20 tháng giêng, năm Tự Đức thứ hai mươi tám [1875, Ất hợi – nbs.], thần: Nguyễn, kính cẩn đáp lại bài thơ vua làm”.

    62

    SÁNG SỚM ĐẦU NĂM, THEO TUẦN
    PHỦ QUẢNG YÊN HỒ TRỌNG LIỄN
    (ĐỈNH) VỚI CÁC TẬP TẤU SỚ
    ĐỆ TRÌNH QUA NGỰA TRẠM VỀ VIỆC
    QUÂN BINH DẸP YÊN Ổ PHỈ TẠI PHÙ
    LONG, NHÂN ĐÓ GHI CHÉP LẠI
    VIỆC ẤY

    1. Vua vỗ yên giặc, khoan và nghiêm
    Đạo trời âm dương, kín và rõ
    Trước chạp, oai lạnh đã xua đông
    Ánh xuân vốn rộng, dân ngẩng trông

    5. Sửa trị vạn điều, đúng, mới, sáng
    Ma quỷ hết sạch, ánh trời tươi
    Lệ triều lạy mừng, nghiêm áo mão
    Chợt nghe tin thắng, giặc vỡ rồi!

    Bỗng ngựa dâng ống, tấu Quảng Yên
    10. Vui thấy chiến công quân vùng biên
    Ngẩng suy, Triều đình trao kế dẹp
    Vừa gặp vận tốt, vinh nối liền

    Nước ta biển đông kề biển bạn
    Chung ngọn cỏ bùn tiếng chuông chung
    15. Thanh cạn, láng giềng thành hang hốc
    Cá ao vô cớ gặp ác ngông!

    Tướng Thanh hai lần không chút thắng
    Ngại khó, rốt cùng sót giặc cắn
    Hang kình lỗ thỏ, cướp phục hầm
    20. Năm trước qua ải, dân khóc đắng!

    Đức Thuấn lắm lừa?! Mê là tỉnh!
    Vắng tiếng dạy khuyên, đông sang tây
    Sao tranh sân, rào? Đành khắc đậm!
    Khó đổi dạ mày, khuôn mặt mày!

    25. Quân ta hoãn diệt đầu mục sao?
    Tiếng trống Phù Long muôn hiểm:
    Nhào!
    Tướng võ tuân lệnh, hết giặc mãnh
    Oai giọng, rửa hờn, lừng công cao

    Ghi công đúng dịp mừng khánh lễ
    30. Trăm quan được rõ, thêm mạnh kế
    Ai bảo sóng to không thể êm?
    Bể vạn dặm cuốn cùng sạch bể!

    Qua – lại, máy huyền, chuyển chớp mắt
    Thế cơ, lẽ trọng ở nông sâu
    35. Nghĩ trong giới hạn: Càn – thánh thể
    36. Tôi mong quất tôi, ngựa đua lâu (a).

    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (a) Xin xem cuối phần chú thích của bản dịch nghĩa bài này.


    Bài 63

    CUNG HỌA NGỰ CHẾ: ĐOAN NGỌ
    VÃN PHIẾM CHU HÀNH HẠNH
    TƯ HIỀN TẤN


    Phụng châu phê:
    “Cận lai học tiến, khả hỉ.
    Khâm thử!”
    (a)

    Huân phong vãn tống thủy sơ bình
    Tam cổ thiên sưu (tao) phóng trạo hành
    Chính vị duyệt phòng môn tỏa trọng
    Phi quan cạnh độ phiến phàm khinh
    Tà dương thiên ngoại vân phong họa
    Tân nguyệt giang đầu kính hạm minh
    Chu tiếp tàm vô thương bật trợ
    Thừa (b) phong thượng kí phấn bằng trình.


    Phụng châu phê:
    “Chí khí sở vị lão nhi ích tráng” (c).
    (b) Phụng châu điểm.

    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm...
    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    63

    KÍNH HỌA THƠ NHÀ VUA LÀM: CHIỀU TỐI
    NGÀY ĐOAN NGỌ (1), ĐI DU THUYỀN THEO
    CUỘC ĐI THĂM CỦA HOÀNG ĐẾ ĐẾN CỬA
    HẢI PHÒNG TƯ HIỀN (2) (a)

    Gió lành buổi chiều hôm đẩy đưa [dòng] nước bắt đầu lặng lờ
    Ba hồi trống, ngàn (3) chiếc thuyền buông [xuống nước vạn] mái chèo [để] khởi hành
    Sự đúng đắn, [ấy là] tiến hành việc khám duyệt [đồn lũy] phòng thủ, [những] chốt khóa cửa [biển] – [các việc vốn được coi là] hệ trọng
    Cái sai lầm, [đó là] quan hệ cạnh tranh [ở] việc vượt sông, [các] cánh buồm – [những việc thuờng bị xem] nhẹ! (hoặc: chẳng quan hệ gì đến chuyện đua bơi [mà] cánh buồm [nhẹ] lướt)
    Vầng dương lặn (tàn, úa) ngoài trời, mây [và] ngọn núi [như] vẽ tranh
    Mặt trăng mới mọc (hoặc: trăng non) đầu sông, [tấm] gương [và] thuyền binh [cơ hồ tự] tỏa sáng
    Thuyền, mái chèo thẹn thùng không luận bàn giúp đỡ [việc chèo chống: việc nước]
    Theo (b) gió, ngõ hầu ra sức phấn kích đường [bay] chim đại bàng (c).

    (1) Đoan ngọ (đoan dương: mặt trời ngay thẳng, chiếu thẳng): 5 tháng 5 âm lịch.

    (2) Tư Hiền, thuộc Thừa Thiên (xem ĐNNTC., tập 1, sđd., tr. 175 - 177).

    (3) Ngàn, vạn (các con số tượng trưng): nhiều lắm.

    (a) “Kính vâng [chép lại] lời phê bút son đỏ [của vua]: “Gần đây, học tập [có] tiến bộ. Đáng mừng. Kính theo đó””. Đúng là lời phê của đế vương!

    (b) “Kính vâng [nhận] nét điểm bằng bút son đỏ [của vua]”.

    (c) “Kính vâng [chép lại] lời phê bút son đỏ [của vua]: “Chí khí – điều ấy nói lên [rằng] – cứng bền (già) mà càng thêm mạnh mẽ (trai tráng)””.


    63

    “CHIỀU TỐI NGÀY ĐOAN NGỌ, ĐI DU
    THUYỀN THEO CUỘC ĐI THĂM CỦA
    HOÀNG ĐẾ ĐẾN CỬA HẢI PHÒNG TƯ
    HIỀN” (a)

    Kính họa thơ hoàng đế Tự Đức

    Chiều tiễn, nồm ru, nước lặng ngày
    Trống ba, ngàn chiếc phóng chèo ngay
    Khám đồn, bảo đúng: then sông tỉnh
    Tranh vượt, nhìn sai: buồm lái say
    Nắng xuống ngoài trời mây núi vẽ
    Trăng non đầu sóng ánh thuyền lay
    Lái dầm, những thẹn không lo giúp
    Bừng sức gió (b) nhân, bằng vút bay (c).


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (a), (b), (c) Xin xem cuối phần chú thích của bản dịch nghĩa bài này.


    Bài 64

    HÀ TRUNG ĐẠO TRUNG TÁC


    Thập lí huân phong phất hạm khinh
    Giang sơn toàn bức nhãn tiền trình
    Quần (a) phong nam củng thần kinh tráng
    Chúng thủy đông triều hải lượng hoằng
    (hoành)
    Tuần nhạc cửu đồng chiêm Thúy Lĩnh
    Thao sư hà tất tạc Côn Minh
    Thần du tận thị ưu dân kế
    Đáo xứ hương bồn giáp (1) đạo nghinh.


    (a) Phụng châu điểm.
    (1) [hiệp?].

    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm
    (và dịch thơ ở bài giới thiệu)

    64

    VIẾT TRÊN ĐƯỜNG HÀ TRUNG (1)

    [Suốt] mười dặm (2) gió mát thổi [đẩy giúp], chiếc thuyền binh nhẹ nhàng [lướt]
    Toàn bức [tranh] núi sông [như] bày ra trước mắt
    Mọi (a) chóp núi [các nước] phương nam đều hướng về kinh đô nhà vua hùng tráng
    Các con nước phía đông thảy chầu quanh sức chứa
    (: tấm lòng) [của] biển rộng lớn
    Tuần xét núi lớn, cùng ngắm lâu Thúy Lĩnh (3)
    Luyện tập quân binh, đâu cần mở thông qua Côn Minh (4)
    Nhà vua đi [khám duyệt] tận nơi đó, ưu tư [về] kế sách [lập trận địa] lo cho dân
    Đến nơi đến chốn [như vậy, nên] bình [xông trầm] thơm [ở các] đường [làng], bến đò [đều dọn bày ra để] đón chào (5).

    (1) Hà Trung, thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên (không phải Hà Trung thuộc huyện Do Linh, Quảng Trị).

    (2) Dặm (đơn vị đo chiều dài đường đi ngày xưa).

    (3) Thúy Lĩnh: đỉnh núi Thúy Vân (nay quen gọi là Tuý Vân). Thúy Lĩnh (hay Thúy Sơn) là cách ghép, lược bớt chữ, nhưng được dùng như địa danh, nên tạm viết hoa cả hai chữ, ở trường hợp trong bài thơ này.

    (4) Côn Minh: có lẽ là một thành phố ở Trung Quốc (A. Kunming, thuộc tỉnh Vân Nam). Trong thực tế, có một số lính, quan được sang nước Thanh (Trung Hoa) để tập huấn quân sự theo sự giao hảo của hai Triều đình (ĐNTL.CB., tập 35, sđd., tr. 160).

    (5) Nghi thức nhân dân nghênh đón nhà vua (ai không tuân theo, sẽ bị tội “bất kính” và “phạm tất” [“tất”: dọn dẹp đường sá cho vua đi]).

    (a) “Kính [nhận nét] điểm son [đỏ của vua Tự Đức]”.

    64

    VIẾT TRÊN ĐƯỜNG HÀ TRUNG

    Mười dặm gió lành thuyền vượt mau
    Núi sông trước mắt – tranh phơi màu!
    Kinh vua hùng mạnh, (a) Nam sơn phục
    Lượng biển rộng sâu, Đông hải chầu
    Xét núi, ngẫm nhìn đèo Thúy ấy
    Luyện quân, cần trổ nẻo Côn đâu!
    Người đi tận đó, lo dân trận (1)
    Nơi đến, bình hương lối nhỏ chào.


    (bản biên soạn)

    (1) Nguyên văn: “dân kế” (kế sách vì dân, lo cho dân; trận thế lòng dân [lấy sự đoàn kết lòng dân làm trận địa đánh giặc]; trận thế của dân).

    (a) Xin xem cuối phần chú thích bản dịch nghĩa bài này.

    Bài 65

    CUNG HỌA NGỰ CHẾ:
    “THỰC NGẠC NGƯ”


    1. Duy bỉ ngạc hề hà như bỉ
    Đổ vật linh nhân tích niệm khỉ (khởi)
    Vô ngạc nguyên phi vi ngạc bi
    Hữu ngạc năng vô nhân ngạc hỉ
    5. Nam trung địa sản tố vi nhiêu
    Ngạc sinh kì gian nhất vật nhĩ
    Mậu đức phổ đồng cảm nhược thiên
    Noãn dục tằng kinh kỉ niên kỉ
    Quy giao lượng bất thiểm sở sinh
    10. Khởi loại trường xà dữ phong thỉ
    Tuy phi (a) giảo sính vi uyên khu
    Tha tộc khẳng linh bức xứ thử
    Giang hồ hoành khí thiếu tuần nhân
    Miếu điện hoàn kham cung hưởng tự
    15. Tuế thường sung cống phi hảo trân
    Vật chí thổ nghi bất khả dĩ
    Tam thập niên lai nhị (b) thập niên
    Truy ức tích kim hồ bất tự
    Phong kình kết võng thiết thần tư
    20. Hạ quý hải môn phương tuần thị
    Long đĩnh phi tường cáp lộ gian
    Tiên tất tạm đình Thai Dương chỉ
    Giải ngư hà bạng tranh hiến tiền
    Đế giám bồi hồi vị vô nhĩ
    25. Phi tiềm ngưu chữ đãi hà thanh
    Tương nhiếp long môn đồng dược lí
    Cự tòng dương ngoại khóa thân lai
    Quản tận phong đào thiên vạn lí
    Tố du bất tùy Tây thượng ngư
    30. Triều tôn đãn hướng Đông lưu thủy
    Mỗi hoài thủy thổ bất thăng (thắng) tình!
    Cố thác tha nhân khắc (c) quyết phỉ
    Gian lao hạnh đắc kiến quân vương
    Hoàng tuất thử gian sinh dữ tử
    35. Tiến tân thiếu ủy cửu trùng tâm
    Tứ dư hạ cập bách khanh sĩ
    Thác vật thiên chương cảm khái thâm
    Thôi thực quân ân đa thả chỉ
    Hòa canh cửu tự quý phi tài
    40. Kim ngư duy nguyện lao đắc mĩ
    Niệm ngạc đương niên thẩm phục
    nhung
    Kim lai tưởng dĩ thức hành chỉ
    Hoàn trung bằng ngạc báo bách xuyên
    44. Giải giáp vô (d) vi bất trạo (1) vĩ.


    (a) Phụng châu điểm.

    (b) Phụng châu phê: “Thấu hối”.

    (c) Phụng châu phê: “Chí khí”.

    (d) Phụng châu phê: “Khủng (khúng) hối”.

    (1) [điệu].

    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    65

    KÍNH HỌA THƠ NHÀ VUA LÀM:
    “ĂN [THỊT] CÁ SẤU”

    1. Chỉ có ngươi, cá sấu! Chừ! Cớ sao lại ngươi?
    Nhìn vật khiến người nhớ lại, [việc] cũ khơi dậy
    Không có [sự hiện hữu] cá sấu, đâu làm cá sấu buồn
    Có [sự hiện hữu] cá sấu, có thể không là nguyên nhân [giúp] cá sấu vui
    5. Đất giữa [cõi trời nước] Nam sản nở, vốn trước đây [sản vật] phong phú
    Cá sấu sinh ra, [cũng] giữa chốn ấy, y như [các giống] vật mà thôi
    Đức lớn (: đạo lí tốt thịnh) trải khắp, đồng đều [của
    Đất nước], làm cảm động, ví như [đức lớn của] Trời
    Trứng [được] dưỡng nuôi, từng trải qua bao nhiêu năm, [bao nhiêu] kỉ (1)?
    Sự rộng lòng của rùa, rồng đất, chẳng xấu hổ [gì]
    cho đời sống [ngươi] vốn có chăng?
    10. Há loài rắn lớn cung cấp cho cương giới [đất nước ta] loài heo sao?! (*a)
    Tuy chẳng (a) giảo hoạt, múa may, bởi vực sâu bức bách [ngươi trong phạm vi]
    [Ngươi vẫn bị] các loài tộc khác khiến sai, ép buộc [: chia ghép] sống ở nơi này
    Tính khí ngang tàng [chốn] sông nước [của ngươi] thiếu sự tuân phục loài người
    Miếu điện (2) quay về [tế ở] núi gò, chịu dâng [ngươi làm vật] tế lễ, thết rượu khách
    15. [Hằng] năm sung cống [ngươi], tuy [ngươi] không [hẳn] là món ngon
    Sách chép [các] sản vật, [các] việc làm thích ứng với đất nước [về địa lí], không thể thiếu [tên ngươi] (hoặc: tìm tòi ghi chép các sản vật hợp thủy thổ [cũng có ngươi] là điều không thể bỏ)
    Ba mươi năm qua, [ít ra là] (b) hai mươi năm
    Truy tìm kí ức, xưa nay giặc giã chẳng
    [có bọn nào] tương tự...
    Phong tước cho cá voi (3), kết lưới, [nhằm] cắt mối lo [của] nhà vua
    20. Ba tháng mùa hè, cửa biển mới [được]
    qua lại xem xét
    Chiếc thuyền rồng (4) nhỏ bay vút, bay liệng giữa đám hàu (: nghêu) [và] cò (*b)
    Lối cấm của tiên tạm dừng [ở] đền Thai Dương (5)
    Ba ba, cá, tôm, sò tranh hiến lễ vật trước
    Hoàng đế xét trông (: chép việc hỏng để răn), [lòng] quẩn quanh (: bồi hồi), bảo rằng không có ngươi!
    25. Không phải [ngươi] ẩn lặn [ở] bến trâu [quấy đục], chờ nước trong [của] sông
    Toan kiêm [cả] Long môn (6) giống như cá chép [đã] nhảy qua (6)
    Há theo [bọn] ngoại dương cỡi thân [ngươi] đến sao!
    [Nhà vua] sửa trị tất cả sóng gió vạn ngàn dặm (7)
    Ngược sông đi lên không tuỳ thuộc [bọn] Tây trên [lưng] cá [, cá ấy là ngươi]
    30. Triều đình, tôn thất (hoặc: chầu về ngôi cao,) chỉ cầu,
    chỉ hướng về [dòng] nước chảy [phía] Đông
    Mỗi khi lo nghĩ [về] Đất Nước, khôn xiết tình!
    Cho nên vén tay áo cất người khác lên, [để] có thể đánh (c) gục đầu [những] cái thùng đậy kín (8)
    Gian lao may được thấy nhà vua
    Thong thả [vẫn] bận lòng (: thương lo) [đất này] giữa khoảng sống gần kề với chết ấy
    35. Tiến dâng lễ vật lên tổ tiên [mà lại] ít an ủi
    lòng cửu trùng (9)
    [Người trên ban đến mức] thừa thãi ân huệ, [một cách] nhún nhường, [cho] gần trăm khanh sĩ
    [Nhà vua] vén tay cất vật lên (hay: mượn hình tượng cá sấu), [khiến] bài văn của Trời (10) cảm khái
    (: niềm cảm xúc có động lòng thương) sâu sắc
    [Vua] giục ăn, ơn vua nhiều, [vua lại] chậm rãi
    [ban] vị ngọt
    Tài “hòa canh” (: tài nấu canh vừa miệng) (11), lâu nay [kẻ bề tôi] tự thẹn là không tài
    40. Cá vàng, chỉ một ước nguyện mò tay [xuống sông biển] bắt được cái đẹp [đó]
    Nhớ cá sấu, năm gánh vác công việc [ấy], [thần] xử đoán bọn giặc (12) chịu tội [là sấu]
    Nay hồi tưởng [việc] đã qua, nhận thức ra [nên] dùng [hay nên] ngừng
    Trong cõi lớn rộng, cậy vào cá sấu [để giúp chúng] báo đáp trăm dòng sông
    44. [Rồi sẽ] cởi bỏ áo giáp (d), [bọn phỉ là sấu] không làm gì (theo kiểu “vô vi”) (13),
    [chúng] không quay ngoắt đuôi (làm phản) (14).

    (1) Kỉ: 12 năm hoặc 100 năm (“thập” kỉ, thế kỉ).

    (2) Miếu điện: nơi thờ vua, nơi vua ở, tức là Triều đình.

    (3) Người Việt mình có lệ phong thần và thờ cá voi, ở các vùng ven bờ biển. Xem chú thích (5).

    (4) Thuyền vua.

    (5) Thai Dương là tên xã, thuộc huyện Hương Trà (địa giới thời Tự Đức), Thừa Thiên. Ở đó có Miếu Nam hải Long vương (ĐNNTC., sđd., tập 1, tr. 72 - 73). Xem chú thích (3), bên trên.

    (6) Cá chép vượt Vũ môn sẽ thành rồng (theo điển tích cổ): thi đỗ, đạt danh cao, tước lớn (TĐTNTN., sđd., tr. 383).

    (7) Dặm: đơn vị đo độ dài đường sá.

    (8) Những thùng đựng súng đạn, muối ăn và hàng cấm nói chung, hoặc xe, tàu của Pháp.

    (9) Cửu trùng: chín tầng, chín cửa, chín bệ; chỉ hoàng đế.

    (10) Chỉ thiên tử, tức nhà vua (trong khuôn khổ ý hệ nho giáo đương thời của tác giả).

    (11) Chơi chữ; nghĩa thực (nấu canh vừa miệng), và nghĩa bóng (điều hòa, điều động trong chính trị, kinh tế, văn hóa nội bộ xã hội; an ninh trật tự, chống ngoại xâm trong quân sự...), nhằm bày tỏ sự khiêm tốn. Xem: chú thích (17) bản dịch nghĩa bài số 56; chú thích (4) bản dịch nghĩa bài số 7; và chú thích (3) bản dịch thơ bài số 6.

    (12) “Thẩm phục nhung”, có thể dịch: xử đoán quân giặc mai phục; xét cho theo quân.

    (13) “Vô vi bất nhi bất vi”: “Vô vi” không phải không làm gì cả, mà thực ra là làm tất cả, ví như khoảng trống không của cái hộp để đựng đồ đạc, có khi, thường là, quan trọng hơn gỗ để làm cái hộp ấy: công dụng của cái “vô”. Xem chú thích (4), bản dịch nghĩa, bài thơ số 34. Tạm hiểu: cho những kẻ trót theo giặc Pháp, nhưng đã biết phục thiện, lập công chuộc tội, được làm các công việc không có thực quyền, hoặc được phép điều trần như Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871)...

    (14) Chính hai chữ cuối: “trạo vĩ”, với hình ảnh cái đuôi cá sấu quay ngoắt – toan làm phản (nghĩa bóng, TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 477), đã làm sáng tỏ hình tượng “ngạc ngư”: ngụy tặc... Nhưng trước hai chữ “trạo vĩ” ấy, đã có chữ “bất” (không), “vô vi”, “giải giáp”, “báo bách xuyên” và đặc biệt là “bằng ngạc” (căn cứ vào [việc đền đáp trăm sông của] sấu; cậy sấu – một cách nói nhã ngữ – [để giúp sấu chuộc tội bằng cách lập công]). Rõ ràng đây là một bài thơ mượn hình tượng vật để nói về bọn ngụy, tả đạo ở Bắc Kì trước đó đã theo giặc Pháp, vào năm 1873, khi Françis Garnier và giám mục Puginier tuyển mộ. Trong số ấy, có những tên đã được giặc Pháp cất nhắc lên làm tổng đốc, án sát như tên thợ rèn tổng đốc Trương chẳng hạn!

    Trước tình hình đó, đành phải mềm dẻo với bọn này, ở cấp thấp. Và chính vua Tự Đức cũng hiểu rằng, Nguyễn Văn Tường đã “xin hãy để lại, đợi để sai phái, cho yên lòng phản trắc” của bọn chúng (ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 83). Quả thật, bọn chúng “bèn đến xin thú, hết sức làm việc” (sđd., tr. 84). Đến lúc tình hình ở Bắc Kì trở lại ổn định, Trần Đình Túc, Cơ mật viện dâng tập tâu, làm phiếu nghĩ định cho bọn ngụy, tả đạo ấy (có tên là hào phú, lắm đồ đệ; có tên đã đỗ tú tài) được “chiểu hàm thất phẩm cấp lương, theo quân tỉnh, phái đi đánh giặc” (tập 33, sđd., tr. 84). Nhưng vua Tự Đức lại đổi ý kiến, không đồng ý, và lệnh cho Nguyễn Uy “sai phái, đợi có công trạng thực, do Nguyễn Uy xét tâu lục dụng, mới cho. Nguyễn Uy cũng phải khéo kiềm chế vỗ về, xét có tình tiết phản nghịch thì trừ bỏ trước khi việc xảy ra, có lẽ mới là ổn thỏa cả”; Trần Đình Túc và Nguyễn Uy tuân lệnh (ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 85; xem thêm sđd., tr. 9 - 10; tập 32, sđd., tr. 363).

    Đấy là cơ sở hiện thực lịch sử của bài thơ này, 12.1873 - 8.1874, trong đó có nguyên tắc và nghệ thuật dùng người.

    (a) “Kính [nhận] nét điểm bút son [của nhà vua]”.

    (b) “Kính [nhận] lời phê bút son [của vua Tự Đức]: “Quá tối [nghĩa]””.

    (c) “Kính [nhận] lời phê bút son [của vua Tự Đức]: “Chí khí (rất khí khái)””.

    (d) “Kính [nhận] lời phê bút son [của vua Tự Đức]: “Tối [nghĩa] kinh khủng”, “sợ [rằng] tối [nghĩa]”” (*c).
    65

    “ĂN THỊT CÁ SẤU”

    Kính họa thơ hoàng đế Tự Đức

    1. Chỉ ngươi, sấu! Hề! Sao lại ngươi?
    Nhìn vật, xui người kí ức khơi
    Không sấu, vốn đâu làm buồn sấu
    Nào vì hiện hữu sấu vui tươi!
    5. Trong cõi nước Nam, sản vật lắm
    Sấu sinh, thế đó, một loài thôi
    Đức Tổ Quốc trải – động lòng Trời
    Trứng nuôi từng qua mấy niên kỉ?
    Tâm rùa, rồng giúp... xấu chi nhỉ?
    10. Rắn lớn há đẻ heo xứ này?
    Tuy chẳng (a) múa may, vực bó hẹp
    Loài khác buộc ngươi sống nơi đây
    Sông hồ ngang tàng thiếu phục phép
    Triều đình tế đàn, lễ là ngươi
    15. Thường năm sung cống
    (chưa ngon nhất!)
    Chép vật, tục đất, thiếu sao thôi!
    Ba chục năm qua, hai (b) chục năm...
    Truy nhớ, giặc xưa đâu tương tự!
    Ngăn kình, kết lưới, cắt lo thầm
    20. Mùa hè, cửa biển, tuần xét đủ
    Thuyền giữa trai cò: rồng bay vươn (*d)
    Lối tiên tạm dừng đền Thai Dương
    Ba ba, cá, tôm tranh hiến trước
    Xét răn: vắng ngươi! Vua bảo buồn
    25. Không lặn bến trâu, chờ sông trong
    Cùng kiêm cửa rồng, như chép nhảy
    Ngươi theo, bọn ngoại cỡi thân sao!
    Vua trị cả sóng vạn dặm ấy
    Ngược nguồn không tùy Tây trên ngươi
    30. Triều, tôn một hướng nước Đông chảy
    Khi nghĩ đất nước, khôn xiết tình!
    Mượn người cố đánh (c) gục “thùng” đậy
    Gian lao may được thấy nhà vua
    Đất này, ngẫm thương giữa chết sống
    35. Dâng lễ, thiếu yên lòng cửu trùng
    Thừa ơn, cúi tặng trăm lương đống
    Mượn vật, văn trời cảm khái sâu
    Giục ăn, vua ban, lại ngọt thết
    “Hòa canh” vốn thẹn, tài nào đâu
    40. Cá vàng, chỉ ước vớt cái đẹp!
    Nhớ sấu... Năm xưa, xét sấu hàng
    Tưởng lại, hiểu dùng hay ngừng hẳn
    Trong cõi, giúp sấu đáp trăm sông
    44. Cởi giáp, vô (d) vi, hết ngoắt phản.


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (a), (b), (c), (d) Xin xem cuối phần chú thích của bản dịch nghĩa bài này.


    Cước chú của bài thơ số 65, thuộc phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):
    (*a) Trường xà phong thỉ: [nghĩa đen là] rắn dài heo to.

    (*b) Cáp, lộ: Cáp Châu (Hạp Châu) và Lộ Châu, hai điạ danh, cũng là hai đồn phòng thủ mặt biển ở cửa biển Thuận An (Huế).

    (*c) Xin lưu ý: “Thấu hối” còn có nghĩa là “thấu suốt [sự] tăm tối”; “khủng hối” còn được hiểu là “kinh khủng (sợ hãi)! tăm tối!”. Chúng tôi nhận thấy những dòng thơ của Nguyễn Văn Tường được châu phê này không có gì khó hiểu (tối nghĩa) cả. Hẳn là vua Tự Đức lo sợ sự phản trắc (“trạo vĩ”) của các quan ở những tỉnh thành quan yếu, như tên thợ rèn tổng đốc Trương, Nguyễn Hữu Độ, Nguyễn Thân? Căn cứ vào nội dung, vào vị trí số 65 của bài thơ, chúng tôi đoán năm sáng tác hẳn là trước 1877 hoặc 1878. “Ba mươi năm đã qua”, ứng vào giai đoạn 1847 - 1877. 1847 là năm hai chiến hạm Pháp, Victorieuse và Gloire, pháo kích vào Đà Nẵng. Pháp thực sự tấn công xâm lược nước ta năm 1858, ứng với “hai mươi năm...”. (Xem NĐNĐDVPVTH., sđd., tr. 98 - 99, tr. 69 - 71). Hoặc có thể Tự Đức dùng chữ “khủng” với âm “khúng” (lo sợ ý ở ngoài lời sẽ xảy ra), [HVTĐ., sđd., tr. 202].

    (*d) Cáp, Lộ, thuyền len: rồng bay vươn.



    Bài 66

    HẠ TRẦN TRỌNG CUNG
    THẤT THẬP THỌ


    Thủy hữu Tam Hà động (đỗng) hữu
    “chiềng” (1)
    Địa Linh chung phúc phỉ kim nhiên
    Đới cừu (cầu) tọa trấn ưu vi lão
    Bàn thác phân đầu động tắc viên
    Hổ bái phi đan phùng khánh điển
    Long biên lưu tuyết tá kì niên
    Gian nan hồi ức tương tùy nhật
    Bán tại giang hồ bán nhật biên.


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    (1) Xin xem chú thích (3), bản dịch nghĩa bài này.

    66

    MỪNG TRẦN TRỌNG CUNG (1)
    THỌ BẢY MƯƠI [TUỔI]

    Nước [nguồn quê hương] có Tam Hà (2), bản, xóm (của người đồng bào thiểu số) có chiềng (3)
    Địa Linh (4) (sự thiêng liêng của đất) un đúc nên phước
    lành, đâu phải [khi không] ngày nay [mới được] vậy
    Đai áo, áo cừu (5), ngồi gìn giữ (nơi trấn nhậm cho dân); [việc] tốt đẹp nhờ cứng bền
    Cái bàn, viên đá mài (6), rối bời [mà] hợp [nhau] (trong
    công việc của nước); [sự] hoạt động tất nhiên trọn vẹn
    Hổ (7) trao chức, khoác [áo] điều, gặp điển lễ lớn
    Rồng ghi chép (8), lưu lại tuyết [trắng], vay [lại] tuổi sáu mươi (9)
    Gian khó, nhớ lại ngày theo [cạnh] nhau [để làm
    việc nước]
    [Cảm thấy tâm hồn] một nửa ở nơi ao hồ sông nước, một nửa ở cạnh mặt trời.

    (1) Trần Đình Túc (1808 - 1892), ĐNLT., sđd., tập 4, tr. 235 - 238.

    (2) Sông Hiền Lương; đoạn cuối sông Thạch Hãn; và sông Hiếu (Do Linh, Quảng Trị; xem bản đồ). Tam Hà còn là điạ danh ở Quảng Trị thời Nguyễn bấy giờ (tên huyện lị) [xem ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 174).

    (3) Tác giả phiên âm chữ “chiềng” (một từ tiếng Việt cổ)? “Chiềng”, theo nghĩa từ điển, là từ để gọi người bậc trên; là bản, mường lớn; hoặc là trung tâm của một khu vực. Ở đây, theo nghĩa thứ ba, trung tâm của các bản, làng nhân tộc thiểu số thuộc huyện Địa Linh (nay là Do Linh), Quảng Trị. [Xem ĐNNTC., sđd., tập 1, tr. 101; Pierre Pigneaux de Béhaine, Tự vị Annam – Latinh (1772 – 1773), sđd., tr. 77; và Viện Ngôn ngữ, Từ điển tiếng Việt, sđd., tr. 152 - 153 và tr. 334]. Về chữ “chiềng”, tác giả đã có một lần sử dụng ở bài “Cùng thống đốc Hoàng lên đài cột cờ, cảm xúc” (bài 30 trong sách này).

    (4) Địa Linh, xem chú thích (3) ở trên.

    (5) Đai áo, áo da (cừu): biểu trưng cho lúc còn làm quan với sắc phục quy định; đây chỉ là chi tiết hoán dụ. Xin xem thêm chú thích (8) của bản dịch nghĩa bài thơ số 11.

    (6) Cái bàn, viên đá mài: chi tiết biểu trưng cho thời cầm gươm tiễu phỉ, đánh thực dân Pháp (bàn mưu tính kế ở cái bàn, mài gươm ở đá mài). HVTĐ., sđd., tr. 707, định nghĩa chữ “thác”: Kinh Thi có câu: “tha sơn chi thạch, khả dĩ vi thác” (đá ở núi khác, có thể lấy làm đá mài). Ý nói: bè bạn hay khuyên ngăn để cứu lỗi lầm cho mình. Xin xem thêm chú thích (8) của bản dịch nghĩa bài thơ số 11.

    (7) Hổ, chỉ tướng cầm quân.

    (8) Rồng, chỉ vua. Vua Tự Đức thường làm thơ, trong đó có nhiều bài kí sự bằng thơ. Long Biên cũng là địa danh.

    (9) Già rồi, Trần Đình Túc vẫn phải nhận chức của Triều đình, như ở những năm 1873, 1874. Ở đây tác giả nhắc đến thời 1874 (với địa danh Long Biên, Hà Nội). Nguyễn Văn Tường viết bài thơ này, chắc chắn là vào cuối năm 1877 hoặc trong năm 1878, dịp mừng thọ bảy mươi tuổi của Trần Đình Túc. Năm 1874, Trần Đình Túc đang ở tuổi sáu mươi, chính xác là 66 tuổi.

    66

    MỪNG TRẦN ĐÌNH TÚC
    THỌ BẢY MƯƠI TUỔI

    Nước chảy Tam Hà, bản có chiềng
    Đất linh đúc phúc, nên phần riêng
    Áo, đai, ngồi giữ, bền nhờ vững
    Bàn, đá, hợp tranh, động hẳn yên
    Hổ tặng, khoác điều, gặp lễ lớn
    Rồng ghi, lưu tuyết, mượn thời quyền!
    Gian nan, nhớ thuở theo nhau bước
    Nửa tại sông hồ, nửa ánh thiên.


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ



    Hết phần 2

    Xin xem tiếp phần 3

    10. NGUYEN VAN TUONG (1824 - 1886) -- THO -- VAI NET VE CON NGUOI, TAM HON & TU TUONG / Tệp 10

    Chùm thơ hai bài 40. 41

    HỌA BÌNH LÂM TÚ TÀI ĐẶNG
    VỊNH VẬT NHỊ THỦ NGUYÊN VẬN:
    MIẾU TRUNG NGỌA MỘC
    NGUYÊN VẬN


    40: BÀI A

    Liên bão tằng khoa bách xích trường
    Kỉ kinh tịch thảo ngọa trung đường
    Vị thành bất khả đồng chi hủ
    Nhất khởi kình thiên tác đống lương.


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    40. 41

    HỌA THƠ TÚ TÀI [Ở] BÌNH LÂM (1) [HỌ]
    ĐẶNG (2), HAI BÀI VỊNH VẬT, NGUYÊN
    VẦN: “CÂY NẰM TRONG LƯƠNG MIẾU” (3)
    NGUYÊN VẦN

    40: BÀI A

    Cùng ấp ủ [hoài bão], từng [tự] khen ngợi (khoe) dài trăm thước (4)
    Bao nhiêu [lần] trải qua [việc phải] đạp xéo (5) lên cỏ, nằm giữa bờ đê (6)
    Chưa thành [việc], [lại] không tốt (bền), [thì] đồng cũng mục nát
    [Quyết] một [lòng] vươn lên trời, làm rường cột.

    (1), (2), (3) Xin xem các chú thích ở bản dịch nghĩa bài số 42.

    (4) Thước ta: 40 cm.

    (5) Chữ “tạ” bao gồm nghĩa của chữ “tịch”. “Tạ” còn có nghĩa là “mượn, nhờ” (“tạ” chỉ khác với “tịch” là một chữ có bộ trúc, một chữ có bộ thảo). Có lẽ “cây nằm trong lương miếu” thuở hàn vi này cũng sống nhờ cỏ, còn chuyện “rường cột” của Triều đình, nước nhà vẫn đang là chí nguyện... (tất nhiên, Triều đình phải tốt đẹp, xứng đáng là biểu tượng của nước nhà)? [Xem HVTĐ., sđd., tr. 569 và tr. 466].

    (6) Chữ “đường” ở bài này còn có nghĩa là cái ao (ở Bắc Bộ). Loại gỗ tốt nào đó, có thể chịu được sự ngâm nước, ngâm bùn, người ta thường ngâm như vậy để tăng khả năng chống mối mọt, loại trừ hết các lớp vỏ dác, chỉ còn phần lõi ròng (bền hơn cả đồng, sắt), trước khi làm nhà.

    40. 41

    HỌA THƠ TÚ TÀI HỌ ĐẶNG Ở BÌNH LÂM HAI BÀI VỊNH VẬT NGUYÊN VẦN:
    CÂY NẰM TRONG LƯƠNG MIẾU,
    NGUYÊN VẦN

    40: BÀI A

    Cùng ước, từng khoe trăm thước suôn
    Bao lần vùi cỏ, nằm đê sương
    Chưa thành, không tốt, đồng còn nát
    Một dậy, chống trời, làm cột, vươn!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ


    Chùm thơ hai bài 40. 41

    MIẾU TRUNG NGỌA MỘC


    41: BÀI B

    Bất tịnh quần tài giảo thốn trường
    Chung phong na đắc phạ đồi đường
    Cán trinh biệt hữu hiên ngang xứ
    Khẳng tác nhân gia tiểu giác (1) lương.


    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm
    (và dịch thơ ở bài giới thiệu).

    (1) TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 195, phiên âm là “dác”.

    40. 41

    “CÂY NẰM TRONG LƯƠNG MIẾU”

    41: BÀI B

    Chẳng ganh đua [với] các loại gỗ [khác], so đo [tøừng li] tấc (1) [chiều] dài
    [Xem như] chấm dứt hết [các] gió [bão] làm sao được, [sao lại] sợ mục nát (sợ sụt lỡ đê điều)
    Gốc (rễ) [trung] trinh (2), có riêng cõi hiên ngang [để đứng vững]
    Dựng chắc chắn [cho] người (3) Ngôi Nhà (3), [có] cây rui, cây xà nhỏ [đây]!

    (1) Tấc của thước ta (còn gọi là thước mộc): 4 cm.

    (2) Trinh mộc: loại gỗ vững cứng.

    (3) Xin lưu ý đầu đề. Từ đầu đề, người đọc hiểu hai chữ Ngôi Nhà phải được viết hoa (theo quy tắc chung, chỉ viết hoa chữ “Ngôi”). Ngôi Nhà ở đây là Triều đình (lương miếu, miếu đường, Trung ương của Nhà nước quân chủ tập quyền). Trong ý hệ phong kiến, Triều đình là biểu tượng Đất nước.

    40. 41

    “CÂY NẰM TRONG LƯƠNG MIẾU”

    41: BÀI B

    Họa thơ tú tài họ Đặng ở Bình Lâm

    Li tấc chẳng so, chuyện ghét tài
    Làm sao hết gió? Sợ hư cây?
    Có riêng gốc vững, hiên ngang cõi
    Dựng chắc Ngôi Nhà, xà nhỏ đây!


    (bản biên soạn)




    Chùm thơ hai bài 42. 43

    HỌA BÌNH LÂM TÚ TÀI ĐẶNG
    VỊNH VẬT NHỊ THỦ NGUYÊN VẬN:
    TÙNG THỤ NGUYÊN VẬN


    42: BÀI A

    Khẳng khoa chất mĩ lăng phàm thổ
    Đặc thị tài cao ấm dị cầm
    Trực đãi miếu đường tư thái khứ
    Đống lương song ỷ ngũ vân thâm.


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    42. 43

    HỌA THƠ TÚ TÀI [HỌ] ĐẶNG [Ở] BÌNH LÂM (2) HAI BÀI VỊNH VẬT, NGUYÊN VẦN:
    “CÂY TÙNG” NGUYÊN VẦN

    42: BÀI A

    [Quyết] khoe cho được cái đẹp [của] phẩm chất, vượt lên [mặt] đất phàm tục (tầm thường)
    Riêng một mình cậy mình cao cường [về] tài năng, che
    chở đặc biệt [cho] chim chóc ([hay] che chở [cho] loài chim [quý hiếm] khác thường)
    Ứng xử ngay thẳng, Triều đình siêng năng chọn lựa [những cây tốt, cần thiết và] loại bỏ đi [những cây xấu chưa cần] (3)
    Rường cột (cột nhất và xà nhà), [hai cái ấy] dựa vào năm [loại] mây trời (3) sâu thẳm.

    (1) Cũng như “Miếu trung ngọa mộc” (Cây nằm trong miếu [: miếu đường = Triều đình]), với đầu đề “Tùng thụ” (Cây tùng), trên trang giấy viết chữ Hán nguyên tác, bài A (tức bài 42) này được viết chữ nhỏ hơn. Có thể Nguyễn Văn Tường đã họa hai bài (cả hai, bài 42 và 43 đều là của ông). Cũng có thể của ông một bài chữ lớn (bài 43), còn bài chữ nhỏ (bài 42) này, là của tú tài họ Đặng (chưa rõ là ai). Xin xem bị chú cuối phần chú thích.

    (2) Có thể là Bình Lâm thuộc huyện Kim Anh, Bắc Ninh (Bằng Lâm? ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 99).

    (3) Mây ngũ sắc là mây lành, theo điển Trịnh Nhân Biểu hoặc Hán Cao Tổ (Lưu Bang) thời hàn vi (TĐTNTN., sđd., tr. 427). Mây năm màu còn có nghĩa khác: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Đó là năm yếu tố vật chất khởi nguyên, xuất phát từ cái rỗng không, mờ mịt được gọi là Đạo. [Đạo sinh ra âm dương, ngũ hành...; Đạo chỉ là tinh vân (có thể hiểu rõ là mây bụi); âm dương, vừa rất khái quát, trừu tượng, vừa rất cụ thể, thấy được, cầm được]. Ngũ sắc vân cũng có thể hiểu là năm tầng mây, trong hệ thống mà nhà vua (thiên tử) là cửu trùng (chín tầng). Ý thứ hai này cũng chỉ là “có thể”, không dám khẳng định một cách thô thiển, dung tục như vậy.

    Ngay ở câu thứ ba, cũng có thể dịch khác đi, trong tính chỉnh thể của tứ thơ, liền mạch trong văn cảnh:

    “Ứng xử ngay thẳng [với] triều đình /
    [tự] cần mẫn chọn lựa [và] loại bỏ [những gì tốt,
    chưa tốt, cần hoặc chưa cần]”.

    Nếu chấp nhận câu dịch này, thì không có vấn đề dựa vào tầng mây thứ năm (quan lại, cỡ tam phẩm), mà chỉ dựa vào Trời Đất, khí thiêng sông núi, theo quan điểm nhà nho Việt Nam (tam giáo khúc xạ trong bản lĩnh Việt).

    Và có lẽ như thế là cảm nhận được tứ thơ của tác giả (?) (*).



    42. 43

    HỌA THƠ TÚ TÀI HỌ ĐẶNG Ở BÌNH
    LÂM, HAI BÀI VỊNH VẬT, NGUYÊN VẦN:
    CÂY TÙNG NGUYÊN VẦN

    42: BÀI A

    Quyết khoe đẹp chất, miền phàm, vượt
    Riêng cậy cao tài, chim lạ nương
    Xử thẳng, triều đình chăm chọn lọc
    Mây sâu ngũ sắc, cột liền rường.


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ


    Cước chú của chùm thơ bài số 42, 43, bài A (42), thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*) Bị chú: bổ sung chú thích (1):

    a) Có thể bài 40, bài 42 cũng của tác giả Nguyễn Văn Tường. Nguyễn Văn Tường viết hai bài này như hai phản đề mở đầu, để hai bài 41, 43 làm kết đề. Bởi là phản đề, nên tác giả viết chữ nhỏ, trình bày khác đi, như kiểu tự đề từ (dạng phản đề) hiện nay. Nếu quả thực như vậy, thì bài 40, bài 42 không thể đứng riêng rẽ, phản ánh quan niệm sống của Nguyễn Văn Tường. Quan niệm sống của ông là ở hai bài 41, 43. Phản – kết đề (căn cứ vào nội dung) là kết cấu tự đối thoại.

    b) Không dám nghĩ hai bài 40, 42 là của tú tài họ Đặng. Cả hai bài tạm gọi là đề từ kiểu phản đề này hơi tự thị, tự đắc... cho dù là thơ khẩu khí.

    c) Yoshiharu Tsuboi, trong cuốn sách của ông, NĐNĐDVP. & TH., đã phân tích sâu sắc về tư cách, uy tín và đặc biệt là chí nguyện, tư tưởng của giới nhân sĩ mà “trung tâm của giới nhân sĩ là nhóm tú tài, một vị trí không rõ rệt giữa quan và dân [...] họ hoàn toàn thuộc giới giỏi của tỉnh” (sđd., tr. 227). Y. Tsuboi đã trích dẫn E. Louvet (Louis - Eugène), “Cuộc đời của giám mục Puginier”, Hà Nội, 1894, tr. 387 với câu nói của Puginier: “Về các nhân sĩ, tôi không sợ mà khẳng định rằng họ sẽ luôn là kẻ thù của nước Pháp, với tính cách tập thể cũng như cá nhân. Phe chiến đấu cực đoan biết rõ họ và hiện nay (1886 – nbs.) còn dùng họ làm tay sai” (NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 228).

    Đấy là sự nhìn nhận đúng, ít ra là ở khía cạnh này, của Puginier, và được y phát biểu theo giọng lưỡi của một tên trùm gián điệp thực dân đội lốt giám mục Thiên Chúa giáo.

    Người chú thích tập thơ Nguyễn Văn Tường chợt liên tưởng đến tú tài Đặng Như Mai (học trò của tú tài Trần Tấn) ở Nghệ An, lãnh tụ phong trào Văn thân ở đấy. Xin xem chú thích (4), bản dịch nghĩa bài thơ số 47; xem thêm NĐNĐDVPVTH., sđd., tr. 239 - 245, 283 - 287; ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 213; đặc biệt là ở tập 33, tr. 10 - 11: lệnh của vua Tự Đức về việc trấn áp phong trào Văn thân Nghệ – Tĩnh.

    Tất nhiên, chỉ là liên tưởng! Chúng tôi chưa xác minh được Bình Lâm (hay Bằng Lâm) là nơi nào. Nếu là Bằng Lâm ở huyện Kim Anh, Bắc Ninh, thì biết đâu Đặng Như Mai đã có lần trốn tránh sự truy bắt của Triều đình, chạy ra ẩn thân ở đấy? Và chữ “trượng”, ở bài số 44, là để chỉ Trần Tấn? Hoặc giả, ông tú tài họ Đặng ở Bình Lâm này cũng là một dạng với tâm nguyện, tư tưởng như của nghĩa tướng Văn thân Đặng Như Mai?

    Chùm thơ hai bài 42. 43

    TÙNG THỤ


    43: BÀI B

    Tài bồi tự cụ lăng tiêu tháo
    Ấm tí năng dung thụy thế cầm
    Lương đống vị ngôn tha nhật dụng
    Độc cao vũ lộ thụ ân thâm.


    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm
    (và dịch thơ ở bài giới thiệu).

    42. 43

    “CÂY TÙNG”

    43: BÀI B

    Hoàn toàn tự mình vun đắp [cái] tiết tháo [trên] gò đất lớn [và ngang] mây xanh (1)
    Bóng râm che tỏa [, lại] thường bao bọc chim muông nương nhờ, tựa ngủ
    [Nếu là] rường cột, chưa [dám] nói [trước là sẽ] sử dụng [vào] ngày [tháng] khác
    Một mình [đứng] cao [chót vót giữa] mưa móc [rơi đều cho thiên hạ], nhận ân sâu.

    (1) “Lăng tiêu tháo” có cụm từ tương tự: “lăng vân chí” với nghĩa: chí vượt cao lên khỏi dung tục, phàm phu [TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 490, và tập hạ, tr. 357].

    42. 43

    “CÂY TÙNG”

    43: BÀI B

    Họa thơ tú tài họ Đặng ở Bình Lâm

    Tiết tháo ngang trời, tự đắp, vươn
    Bóng cây che chở, giấc chim nương
    Ngày nào chưa nói, nên rường cột
    Mưa móc ơn sâu, vút một phương!


    (bản biên soạn)

    Bài 44

    KÍ PHỎNG ĐẶNG TÚ TÀI


    Kỉ kinh sương tuyết phí mang bôn
    Mỗi ức tiên giao cứu trượng hồn
    Hoàng Thạch phi vô phương lược tại
    Truyền thư khước hận tải không ngôn!


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    44

    GỬI THĂM TÚ TÀI [HOï] ĐẶNG (1)

    Bao nhiêu [độ] nếm trải sương tuyết, [đành] lãng phí sự chạy vạy bận rộn!
    Mỗi [lần] nhớ [sự] gắn bó (keo sơn) trước đây, [cố gắng] cứu giúp [cho] cái ẩn chứa bên trong (: năng lực tinh thần) [của] ông
    [Người như] Hoàng Thạch (2) không phải không có; phương lược [vẫn] còn [đó]
    Gửi thư [lại] bèn giận [là chỉ] chuyển tải [những] lời rỗng không!

    (1) Xin xem các chú thích ở hai đôi bài, 40 - 41 và 42 - 43, đặc biệt là bị chú bổ sung cho chú thích (1).

    (2) Hoàng Thạch công, người truyền thụ binh thư, phương lược cho Trương Lương để Trương Lương giúp Lưu Bang (Hán Cao Tổ), thời “Hán – Sở tranh hùng” ở bên Trung Hoa.

    “Theo truyền thuyết, Trương Lương gặp một ông già ngồi trên cầu Dĩ; ông già mấy lần đánh rơi giày xuống nước, Lương đều xuống nhặt, kính cẩn đưa lên trả. Ông già bèn cho một cuốn binh thư và bảo: “Mười ba năm sau thấy hòn đá vàng ở chân núi Cốc Thành, đó chính là ta”. Vì vậy, người đời gọi là Hoàng Thạch công” (chú thích, Thơ Đường, tập 1, Nxb. Văn Học, 1987, tr. 84).

    44

    GỬI THĂM TÚ TÀI HỌ ĐẶNG

    Trải bao sương tuyết, phí in lòng
    Thường nhớ, keo sơn, cứu chí ông
    Hoàng Thạch đâu chăng, phương lược đó
    Gửi thư bèn hận, chuyển lời không!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ





    Bài 45

    TẶNG BẮC PHIÊN PHẠM GIÁ (GIẢ) (1)
    HỒI BỆNH


    Nguyệt tà thiên dục hiểu
    Gia Viễn khách sơ quy
    Chính hỉ kim tao yết (2)
    Ưng thương tích biệt li
    Tử phi vinh hoạ cẩm
    Ngã vị giải nhung y
    Tương đối nan tương tống
    Du du hữu sở ti (tư).


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    (1) TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 56, 193 phiên âm là “dả” (“bệnh dả”). HVTĐ. của Thiều Chửu, sđd., tr. 30: “giá”.

    (2) Chúng? Chữ “chúng” đúng hơn.

    45

    TẶNG BỐ CHÁNH [TỈNH] BẮC [HỌ]
    PHẠM (1), BUỒN LO [SAU KHI ĐI THĂM
    THÂN NHÂN] TRỞ VỀ, NGHỈ NGƠI

    Trăng nghiêng, trời muốn sáng
    Gia Viễn (2), người mới về (hoặc: Nhà xa, người mới về)
    Đáng vui [buổi] tất cả [nhiều người] (bất ngờ) gặp lại hôm nay
    Nên thương [lần] chia biệt (riêng) trước
    Ông không vẻ vang [bởi] gấm vóc [thêu] hoa văn
    Tôi chưa cởi [được] áo chiến trận
    Đối mặt nhau khó cùng tặng biếu (hoặc: đưa tiễn) nhau:
    [Cái] dằng dặc [thời gian, không gian từng] hiện hữu [niềm] lo nghĩ [của] chúng ta! (3)

    (1) Phạm Thận Duật. Xin xem các chú thích của bài số 15, “Tặng bố chánh Bắc Ninh Phạm [Thận Duật]…”.

    (2) Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình (ĐNNTC., tập 3, sđd., tr. 241).

    (3) Không thể tặng nhau cái xa xăm, mênh mông, sâu thẳm từng chứa đựng nỗi lo nghĩ! Một tứ thơ quá mới mẻ, sâu sắc của nhà thơ Nguyễn Văn Tường, được viết cách đây gần một trăm ba mươi năm!

    45

    TẶNG BỐ CHÁNH TỈNH BẮC NINH
    PHẠM THẬN DUẬT BUỒN LO TRỞ
    VỀ, NGHỈ NGƠI

    Trăng nghiêng, trời muốn sáng
    Gia Viễn, người vừa về
    Đáng chúc nay vui tất (1)
    Nên thương dạo biệt li
    Ông không vinh gấm vẽ (2)
    Mình chửa cởi chinh y
    Nhìn mặt khó cùng tặng:
    Nỗi dằng dặc nghĩ suy.


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ
    (1) & (2) Để tiểu đối bằng từ Hán – Việt với “biệt li”, “chinh y”: “Đáng chúc nay tao ngộ” và “Bạn không vinh lễ phục”.

    Bài 46

    THỨ SƠN ĐỐC TRẦN ĐỊNH CHI
    NGUYÊN ĐÁN THÍ BÚT


    Ngũ niên do tác khách
    Tam nguyệt hựu cánh xuân
    Đáo gia duy hữu mộng
    Tải tửu khởi vô nhân
    Quá xứ giang sơn cựu
    Phùng thời thảo thụ tân
    Biên phân (phần) hi tảo tĩnh
    Cung mã phục nhung thần.


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    46

    LÀM TIẾP HỘ ĐỐC SƠN TÂY (1) [HỌ]
    TRẦN (2) CÂU THƠ ĐÃ LÀM SẴN, BÀI “THỬ BÚT [VÀO DỊP] NGUYÊN ĐÁN”

    Năm thứ năm, còn làm khách
    [Nhưng dẫu đến] tháng ba [thì tháng ba] lại càng xuân
    Đến [với] ông (3), tưởng [còn] hiện hữu giấc mộng
    Chở rượu, chẳng lẽ không người [sao]?
    Đi qua nơi xứ [mà] núi sông [đều quen thuộc như] cũ
    Gặp giờ giấc (: thời gian) cỏ cây tươi tắn
    Biên cương khí độc, mong sớm [được] yên tĩnh
    Cung [tên], ngựa [chiến] lại trở về [với] quan võ (4).

    (1) Sơn Tây với địa giới hành chính thời Tự Đức (xem ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 183 - 264).

    (2) Trần Công Bình, sau đổi thành Trần Bình, người Thân Nộn [Tiên Nộn?], Thừa Thiên, đỗ cử nhân khóa 1840 (QTHKL., sđd., tr. 198). Lưu ý: Hai câu thơ đầu theo luật bằng (chữ thứ hai câu thứ nhất: “niên” [thanh bằng]) nhưng sáu câu tiếp lại là luật trắc. Do đó, hẳn hai câu đầu bài là của Trần Bình?

    (3) Dịch từ chữ “gia” (người có học vấn, chuyên môn cao); lẽ ra tạm dùng chữ “kẻ sĩ”. Chữ “ông” chẳng nói lên ý ấy.

    (4) Thời chiến tranh, các quan văn cũng phải làm tướng, tá, cầm quân tiễu phỉ, đánh giặc. “Cung” (cung tên) [“cung mã” (cung tên và vó ngựa)] chỉ là ước lệ. Thời này, trong chiến tranh, vũ khí là súng đạn (ngoài gươm đao vẫn còn sử dụng).

    46

    Ở NHÀ TRỌ,
    HỘ ĐỐC SƠN TÂY HỌ TRẦN LƯU LẠI,
    NÊN THỬ BÚT VÀO SÁNG ĐẦU NĂM

    Năm Tết còn làm khách
    Tháng ba, càng thắm đời!
    Đến nhà, đang ngỡ mộng
    Chở rượu há không người?
    Qua chốn non sông cũ
    Gặp giờ cây cỏ tươi
    Sốt biên mong sớm tĩnh
    Cung trả võ quan thôi!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    Bài 47

    HỌA CHÍNH SỨ LÊ TỰ ĐÔNG GIA
    KHỞI HÀNH TỰU THUẬN TẤN HỎA
    THUYỀN NGUYÊN VẬN


    Kỉ niên sóc tái kiên nhung kì
    Thử nhật Tây phù tá hỏa trì
    Hoàng tuất tiền đồ kha khảm lịch
    Chi thương vãng sự hải tang di
    Lỗ tình tự thị đa tư sính
    Triều sĩ hà thường thiểu kiến nguy
    Độc quý phi tài thao trọng tuyển
    Sinh bình đồ tụng bách thiên thi.


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    47

    HỌA THƠ CHÁNH SỨ LÊ (1): “TỪ ĐÔNG GIA (2) BẮT ĐẦU ĐI ĐẾN THUYỀN HƠI NƯỚC
    [Ở] CỬA THUẬN (3)”, NGUYÊN VẦN

    Bao năm, đầu biên ải, vững ngọn cờ quân đội
    Ngày nay, đi sứ [qua] Tây (Pháp...) (4), (vượt sông biển) (5), [ngồi ở] xe lửa giúp cho [chánh sứ]
    Rảnh rỗi [mà bận lòng] lo nghĩ (cho dân nghèo) [về] con đường phía trước, [sẽ phải] trải qua gập ghềnh (sóng gió)
    Kính cẩn ưu tư [về] việc cũ (đã qua) [của vua,
    của nước], [đành gặp] biến dời [như] biển dâu (6)
    Lòng dạ bọn tôi mọi (: giặc Pháp) (7) [cứ] tự cho là phải, [cứ] hoài tưởng nghĩ trò múa men khoái ý
    Đại thần ở Triều đình sao từng trải biết, [vẫn] ít [người] thấy ra nguy cơ [cho nước nhà]?
    Riêng một mình thẹn thùng [là] không tài năng, lạm ơn (8) [được] quý trọng, tuyển chọn [làm phó sứ]
    Bình thường vốn dĩ sống [như] người học trò (tay trắng), đọc to (ngâm nga sang sảng) trăm thiên (bài) thơ ca [mà thôi]!

    (1) Lê Tuấn (Toán), (ĐNTL.CB., sđd., tập 32, tr. 293, 304, 333...), (ĐNLT., sđd., tập 4, tr. 323 - 328).

    (2) Nay quen gọi là Đông Ba (ở Huế).

    (3) Cửa Thuận An, Thừa Thiên – Huế. Cửa biển này còn có tên là cửa Nhuyễn hải (VNSL., bản 1999, sđd., tr. 429).

    (4) Việc chiến đấu tiễu phỉ chưa ngớt ở biên giới phía Bắc (bởi vì Jean Dupuis, Puginier tăng cường mua chuộc, quấy phá), Nguyễn Văn Tường được điều về kinh để nhận nhiệm vụ đi sứ sang Pháp, Anh, Tây Ban Nha, nhưng trước hết phải cùng chánh sứ Lê Tuấn đến Gia Định (Nam Kì) thương nghị với phủ súy Pháp Dupré. Nguyễn Văn Tường lúc này là phó sứ của sứ bộ. Tự Đức hiểu ông có tài năng lớn, nhưng bởi một số “sự cố”, như vụ khởi nghĩa “Chày Vôi” ở Huế lúc ông làm phủ doãn, vụ ông lại đề xuất việc tổ chức, xây dựng kế hoạch kháng chiến cùng Thân Văn Nhiếp, Nguyễn Quýnh, với tinh thần tự nguyện về lại Cam Lộ, Quảng Trị, từ chức phủ doãn Thừa Thiên, do đó, ông không được Tự Đức tin dùng, không được phe chủ “hòa” đang thắng thế ủng hộ. Tuy vậy, Nguyễn Văn Tường quá xuất sắc, nổi bật, nên Triều đình không thể không chọn ông. Ngay cả Trần Tiễn Thành cũng buộc lòng phải đề cử Nguyễn Văn Tường! Có điều, ông chỉ mới được cho mượn... hàm tham tri Bộ Binh để sung làm phó sứ! Và rồi, vì tình thế biến đổi, do cuộc đấu tranh ở bàn thương nghị căng thẳng kéo dài, Pháp không bớt ngoan cố, lại đánh chiếm Bắc Kì (âm mưu khởi từ lúc Jean Dupuis tới Vân Nam, Trung Quốc, lúc y tìm cách ngược sông Hồng...), nên dẫn đến việc Nguyễn Văn Tường, theo lệnh của Tự Đức, phải kí hai thỏa ước với Philastre, 1873, để Pháp trả lại bốn thành ở Bắc Kì, đồng thời chúng rút quân khỏi ngoài ấy; sau đó là hiệp ước 1874, thương ước 1875; và cả việc đi Pháp, Anh, Tây Ban Nha... cũng bãi bỏ. Kí điều ước 1874, thương ước 1875, nước ta chịu một số nhượng bộ đau lòng (trong đó, có việc chính thức hóa việc Pháp cướp ba tỉnh Miền Tây Nam Kì, từ sự “dâng đất” của Phan Thanh Giản, 1867, việc mà, 1868, Nguyễn Văn Tường phản đối quyết liệt, khi Pháp đòi chính thức hóa sự cướp đất đó). Mặc dù vậy, đất nước có được một thời kì ngắn hòa bình để chấn chỉnh, củng cố, nâng cao nội lực, trong tinh thần chuẩn bị lại đương đầu với giặc Pháp. Tuy nhiên, việc đau lòng nhất là Nguyễn Văn Tường, Lê Bá Thận, Tôn Thất Thuyết, cả Nguyễn Khuyến (nhà thơ, tam nguyên Yên Đổ)... phải cắn răng, ngậm miệng chấp nhận “sách lược thỏa hiệp tạm thời” với giặc Pháp để trấn áp phong trào Văn thân Nghệ Tĩnh do Trần Tấn, Đặng Như Mai lãnh đạo. Đó là một phong trào vừa “sát tả đạo” vừa chống Pháp, đúng với ước nguyện của những người phải đánh dẹp, đúng với tôn chỉ trước đây của Triều đình Huế! Ngay cả lúc phải trấn áp phong trào Văn thân, Triều đình Huế cùng những người như Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết nói trên, cũng vẫn đồng tình với lời Hịch Văn thân! Oái oăm là ở đó, bi kịch lịch sử là ở đó! Bởi Triều đình Huế ngỡ rằng, cần trấn áp, phủ dụ (vỗ yên) tất cả các lực lượng yêu nước không chấp nhận “sách lược thỏa hiệp tạm thời” để Triều đình khỏi bị phân tán tâm lực, nhằm để dành tâm lực đối phó với giặc Pháp, tranh thủ thời gian đặng củng cố, tăng cường binh lực, khả năng phòng thủ, tiến đến giành lại lục tỉnh bằng vũ trang.

    V.I. Lê-nin (Lénine) cũng từng nói: “Thỏa hiệp với kẻ thù mà có lợi cho Cách mạng, chúng ta vẫn sẵn sàng thỏa hiệp”, và Lê-nin cũng từng phải kí hòa ước Brest-Litovsk (13. 5. 1918) với phát-xít Đức để đối phó với 14 nước tư sản, lực lượng đang trực tiếp đe dọa và tấn công Nhà nước Xô-viết non trẻ (mới thành lập được khoảng 6 tháng!), [xem Lịch sử thế giới, Ban THTƯ. VHH., sđd., tr. 80 - 82, 94].

    Trong thực tế lịch sử, Nguyễn Văn Tường đi trên tàu binh của Pháp (theo hiệp ước 1874) để vỗ yên, bắn súng thị uy, dọa bóng dọa gió cuộc khởi nghĩa Văn thân. Lực lượng Văn thân nghe súng bắn dọa đã bỏ chạy tán loạn (ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 77 - 80).

    Ở cánh quân phía bắc Nghệ An, Thanh Hóa, Tôn Thất Thuyết cũng thế (xin xem: ĐNTL.CB., tập 33, tr. 68 - 70, 80; Trần Văn Giàu, Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử, Nxb. TP. HCM., 1993, tr. 451 - 452, 455 - 456).

    Oái oăm nữa là Nguyễn Văn Tường phải đem số tiền của Triều đình là 2000 quan để ủy lạo (!) cho giáo dân và các cha cố ở Nghệ Tĩnh – tất nhiên “tả đạo” này cũng thuộc lực lượng “tả đạo” Hải Dương mới tổ chức bắt cóc Nguyễn Văn Tường để phá hỏng việc tại Hà Nội, nhưng Nguyễn Văn Tường đã đối phó được (ĐNTL.CB., sđd., tập 32, tr. 355 - 356).

    Đó là thành công lẫn bi kịch của Nguyễn Văn Tường, 1873 - 1875! [ĐNTL.CB., sđd., tập 32, tr. 11, 225, 293, 304, 342; tập 33, tr. 8 - 12, 58, 88, 103, 112, 126 - 127...; xem NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 239 - 245, 283 - 287].

    (5) Chữ “phù” trong nguyên tác chữ Hán là “nổi trên nước”, là “quá độ” (giao tiếp, thương nghị giữa Phương Đông với Phương Tây, giữa Việt Nam với Pháp...), tức là đi sứ.

    (6) Biển dâu: “thương hải biến vi tang điền” (biển xanh biến đổi, thành ruộng dâu), chỉ sự biến đổi của tự nhiên, xã hội...

    (7) Chữ “lỗ”, nguyên nghĩa là “tôi mọi”. Ở bài thơ “Thần” của Lí Thường Kiệt, có câu: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm”... Nguyễn Văn Tường trực chỉ bọn tay chân người Pháp của chính phủ Pháp, của Pháp hoàng... Đó là bọn “tôi mọi” xâm lược. Xem chú thích (4), (5) bản dịch nghĩa bài số 3, về chữ “man”, “hồ”... và thái độ, tình cảm tốt đẹp của ông đối với đồng bào nhân tộc thiểu số, trong hạn chế của ước lệ ngữ ngôn thời phong kiến. Giặc xâm lược, cho dù Tàu hay Tây, đều là “lỗ”.

    (8) Sắc thái biểu cảm như “chi”, “khể”... Xin lạm bàn chữ “khấu” với nghĩa “cúi đầu sát đất” (“khấu đầu”; ví dụ: “khấu đầu bái tạ quân ân”). Sống dưới chế độ quân chủ phong kiến, kẻ bề tôi thường khởi đầu câu nói trước mặt vua, hoặc khi nói về việc có liên quan đến nhà vua, nhất là lúc nhận chức, nhận sắc dụ, bằng chữ “chi” (kính cẩn), “thao” (lạm ơn), “khể”, “khấu” (cúi đầu sát đất)... Tất nhiên thời dân chủ vẫn phải bày tỏ sự tương kính (kính trọng lẫn nhau), theo phép lịch sự, trong trật tự tôn ti, bình đẳng về nhân cách, nhân phận, nhân vị, cho dẫu là giữa người đứng đầu Nhà nước với kẻ nghèo mạt nhất trong xã hội. Hiện nay ở Phương Tây cũng không còn “sấp mình trước mặt chúa [thượng]” nữa. “Sấp mình”, nghĩa quỳ gối và dán trán xuống mặt đất! Tất cả mọi cái, mọi sự đều có tính lịch sử – cụ thể.

    47

    “TỪ ĐÔNG GIA BẮT ĐẦU ĐI ĐẾN
    THUYỀN HƠI NƯỚC Ở CỬA THUẬN”

    Họa thơ chánh sứ Lê Tuấn (Lê Toán)

    Bao năm đầu ải, vững cờ soi
    Nay vượt biển Tây, xe sứ ngồi
    Xa liệu, cứu dân, đường sóng gió
    Kính thương, biến nỗi, việc thung đồi (1)
    Giặc khoe, cứ mãi khua nương thế
    Quan ngó, sao thưa thấy hiểm thời?
    Cúi thẹn không tài, vua quý chọn
    Sống thường (2) tay trắng, đọc thơ thôi!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Tạm thay hai chữ “biển dâu” thành “vũng đồi”. Hai chữ “vũng đồi” ấy, của Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong câu: “Thế gian biến cải vũng nên đồi”. Hai câu thực cũng có thể thoát khỏi cách ngắt nhịp, cách gieo thanh thông thường phải theo đúng niêm luật Đường thi cổ điển (3 / 4) vốn rất đơn điệu, để có nhạc điệu khác (2 / 3 / 2):

    “Xa liệu, đường cứu nghèo, sóng gió
    Kính thương, việc thay cũ, thung đồi”;


    Ít ra cũng chỉ thay đổi nhịp điệu:

    “Xa liệu, nỗi đường dài, sóng gió
    Kính thương, thời giặc loạn, thung đồi”.


    (2) Có thể dùng hai chữ “bình sinh” trong tiếng Việt (vốn quen dùng): “Bình sinh tay trắng, đọc thơ thôi”.



    Bài 48

    HỌA CHÍNH SỨ LÊ: “ĐĂNG YẾT
    THIÊN Y THÁP TẠI BÌNH THUẬN
    TỈNH, CÙ HUÂN TẤN”, NGUYÊN VẬN


    Quần phong tranh hạ nhất loan hoành
    Địa mạn sơn cao thủy diệc thanh
    Thác tục đương niên truyền Liễu Hạnh
    Siêu tình hà xứ tiếp kì sinh?
    Thê nham linh tích tồn chiêm vọng
    Phù hải kì duyên tá phẩm bình
    Nam thổ thiên thu hoàn cố quốc
    Quy cương ưng tướng thử Tây hành.


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    48

    HỌA THƠ CHÁNH SỨ [HỌ] LÊ (1): “LÊN THÁP
    THIÊN Y (2) TẠI CỬA HẢI PHÒNG CÙ HUÂN (3), TỈNH BÌNH THUẬN (3)”, NGUYÊN VẦN

    Cụm núi tranh nhau hạ thấp xuống, một vũng biển (4) (chảy vòng vào đất liền) nằm ngang
    Đất xuôi tràn, núi cao, nước cũng xanh theo
    Mượn thế tục, năm xưa (5), [thần thiêng] truyền [đạo] Liễu Hạnh (6)
    Vượt khỏi thực tại, ở nơi nào, [Bà] tiếp nối kiếp sống có hạn định [ở trần gian của Bà]?
    Hang núi lạnh lẽo u tịch, dấu tích linh thiêng, [người ta] vẫn còn ngẩng mặt trông nhìn
    Biển cồn mối duyên lạ lùng, [ai] mượn [tiếng] khen chê
    bàn luận!
    Đất Nam [Bộ] (7) [phải] nghìn thu trả về cho nước cũ [Việt Nam]
    Lấy về, gồm lại các vùng biên cương theo trạng mạo, ([Bà Thiên Y] nên giúp cho (8)), [trong chuyến] đi Tây (9) này.

    (1), (9) Xem chú thích (1), (4) về Lê Tuấn (Lê Toán) và mục đích chuyến sang Pháp, Tây Ban Nha, Anh... của sứ bộ: chuộc lại các tỉnh Nam Bộ bị Pháp xâm chiếm, Phan Thanh Giản “dâng đất”, ở bài 47, bản dịch nghĩa.

    (2) Xem ĐNNTC., Nxb. Thuận Hóa, 1992, tập 3, tr. 106 - 108, về cổ tích Tháp cổ Thiên Y (Thiên Y tiên nữ, Thiên Y A Na Diễn Phi, Thiên Y A Na Diễn Bà, Chúa Ngọc Thánh Bà, Hồng Nhân Phổ Tế linh ứng thượng đẳng thần, là các tên gọi, danh hiệu khác nhau của Bà).

    (3), (4) Tấn (cửa hải phòng). Tấn cửa lớn Cù Huân, tấn cửa bé Cù Huân (xem ĐNNTC., sđd., tập 3, tr. 110). Không hiểu vì sao tác giả Nguyễn Văn Tường lại viết rõ tất cả các thắng tích, địa danh trên lại thuộc tỉnh Bình Thuận, trong khi ĐNNTC., sđd., lại xác định rõ là, thuộc tỉnh Khánh Hòa? Có thể Nguyễn Văn Tường sơ suất; có thể có một sự thay đổi địa giới hành chính nào đó trong một quãng thời gian nhất định (?!).

    Vả lại, xin lưu ý, có thể có sự nhầm lẫn địa danh Cù Huân, còn “tỉnh Bình Thuận” vẫn đúng, bởi theo ĐNNTC., tập 3, sđd., tr. 138 thì ở Bình Thuận cũng có đền thờ Thiên Y, tại Đảo Bà (đền thờ ngoài đảo). Rất tiếc là ĐNNTC. không chỉ rõ ở đảo này có tháp hay không, mà chỉ nói là có tượng thờ bằng đá.

    Xin nêu thêm để rộng đường tra cứu, xác minh. Kính mong được chỉ bảo giúp.

    (5) Đương niên: năm gánh vác công việc; năm xưa.

    (6) Liễu Hạnh là một trong “tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam (Liễu Hạnh, Tiên Dung - Chử Đồng Tử, Thánh Gióng, Tản Viên sơn thánh). Không phải một anh hùng dân tộc, nhân vật lịch sử được thần thánh hóa, như Đức Thánh Trần (thánh Cha), Liễu Hạnh là một nhân vật hoàn toàn xuất phát từ tư duy tín ngưỡng. Hẳn Liễu Hạnh cùng Thiên Y A Na, Bà Chúa Xứ đều khởi nguyên từ một nguồn cội Đông Nam Á, tín ngưỡng thờ hình tượng Người Mẹ. Do đó, “ở Trung Bộ, bà được đồng nhất với Thiên Y A Na” (xem Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. VHTT., 1998, tr. 365 - 387; Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. TP. HCM., 1992, tr. 283 - 309, đặc biệt là các trang: 298, 306 - 309).

    (7) Lục tỉnh: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường; An Giang Vĩnh Long, Hà Tiên (địa danh và địa giới thời Tự Đức, nay đã xê dịch, thay đổi...). Xem chú thích (1), (9), bài này.

    (8) Đây là biểu hiện của tâm thức linh hồn giáo lâu đời của văn hóa Việt Nam, ở Nguyễn Văn Tường, trong hạn chế ý hệ của thời đại ông. Về “linh hồn giáo”, xin xem Phan Ngọc, BSVHVN., sđd., tr. 343, 350, 365... Theo người chú thích mạo muội này, lao động sáng tạo ra con người, và con người ở một trình độ tiến hóa nào đó, cũng bằng lao động, sẽ tạo ra cho bản thân cái gọi là linh hồn có tính vật chất (sóng sinh điện chẳng hạn), còn sự tương ứng (“linh ứng”!?) giữa kẻ sống và hồn người chết chỉ là ngẫu nhiên, phần lớn là vớ vẩn.

    Riêng về hai câu kết, kết lại tứ thơ mà tác giả biểu đạt trong toàn bài:

    “Nam thổ thiên thu hoàn cố quốc
    Quy cương ứng tướng thử Tây hành”


    có bốn chữ cần lưu ý: “hoàn” (trả lại), “quy” (thu lại, lấy về, gom nhóm lại), “ưng” [hoặc: “ứng” cũng cùng mặt chữ Hán], “tướng” [xem nghĩa ở đoạn dưới]. Trần Đại Vinh (KVQC. NVT. TT., sđd., tr. 11) đã dịch:

    “Lục tỉnh / nghìn năm về nước cũ
    Cõi bờ thu lại / chuyến Tây hành”


    Rất đáng tiếc, vì để làm nổi rõ “cõi bờ thu lại” (“quy cương”), ông đành cho hai chữ “ứng tướng” bị lược bỏ. “Ứng tướng” có ba nghĩa thống nhất trong chỉnh thể tứ thơ là:

    a. quan tướng hai bên đối mặt ở bàn hội đàm;

    b. ứng theo trạng mạo bản đồ Việt Nam;

    c. nên giúp cho.

    Trong đó, ý tưởng Việt Nam, từ Cà Mau đến ải Nam Quan, với một sự nhất thống cả về tâm linh (Thiên Y A Na cũng là Liễu Hạnh, cũng là Bà Đen, Bà Chúa Xứ), lại là một khía cạnh lớn của chỉnh thể tứ thơ ấy (chỉ là một khía cạnh lớn – tôi xin nhấn mạnh). Thiếu sót đó là đáng tiếc, cũng như ở một số bản dịch khác, rất khoa học (sát nghĩa, toát được thần, ý của nguyên tác), mặc dù cơ bản là rất tài hoa và trong sáng, giữ được hơi hướm cổ thi.

    Tuy nhiên, chủ đề của bài thơ vẫn là: cảm xúc, suy tưởng về thắng cảnh, về cõi tâm linh siêu hình (kể cả băn khoăn về sự siêu vượt thực tại trần gian của thần thánh), về sự thống nhất tâm linh tín ngưỡng, thống nhất cõi bờ đất nước về một mối. Do đó, hai chữ “ứng tướng” phải có thêm nghĩa thứ ba “ứng nghiệm, linh ứng giúp cho”, ngoài hai nghĩa cực kì quan trọng kia, như trên đã viết. Nhưng làm sao dịch hết các ẩn ý và hiển ý được, mặc dù vẫn cố gắng toát lên tất cả một cách rất “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời).

    “Kết” là vừa mở, vừa đóng, lại vừa đọng. Phải đọng nghĩa thứ ba (linh ứng giúp cho) mới đúng là “kết”, để có cơ sở mở ra hai nghĩa kia, dẫu biết rằng nghĩa thứ ba ấy, quả thực là hạn chế của ông, nhà thơ Nguyễn Văn Tường.

    48

    “LÊN THĂM THÁP THIÊN Y
    TẠI CỬA HẢI PHÒNG CÙ HUÂN,
    TỈNH BÌNH THUẬN” (1)

    Họa thơ chánh sứ Lê Tuấn (2)

    Cụm đồi tranh xuống đầm ngang sâu
    Biếc núi đất xuôi nước ánh màu
    Mượn tục, xa thời (3) truyền Liễu trước
    Vượt phàm, nào chốn nối đời sau?
    Dấu linh hang lạnh trông vời đó (4)
    Duyên lạ biển cồn khen trách đâu
    Nghìn thuở đất Nam về nước Việt
    Ứng giùm, thu cõi, chuyến đi Âu!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Chúng tôi vẫn giữ nguyên đầu đề bài thơ của Lê Tuấn trong ngoặc kép (xem thêm hai chú thích (3), (4) của bản dịch nghĩa bài này).

    (2) Lê Toán, theo phiên âm của QTCBTY., sđd.

    (3) Dịch sát: Mượn tục, năm xưa truyền Liễu trước.

    (4) Dịch sát: Dấu linh hang lạnh còn trông ngước.


    Bài 49

    THUYỀN CẬN CẦN GIỜ NGHỊCH
    PHONG BẤT TIẾN


    Phan Thiết kê minh nhất dạ đàm
    Phi sơn bạc mộ bán vi lam
    Hải quang tinh tán ba triều bắc
    Oa phị (phí) yên phi hỏa chuyển nam
    Lãnh thượng chiêu đăng tiêu tức cận
    Thuyền đầu khuy kính lộ trình am
    Thừa phong vạn lí hoàn dung dị
    Chỉ xích trì hồi dã khởi cam.


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    49

    THUYỀN ĐẾN GẦN CẦN GIỜ (1) [GẶP]
    GIÓ NGƯỢC, KHÔNG ĐI TỚI [ĐƯỢC]

    [Ở] Phan Thiết (2), gà gáy [suốt] một đêm (3) [ven] đầm [nước]
    Núi Phi (4), [lúc] chiều nhạt [nắng], một nửa [núi] là khí độc
    Biển sáng, sao trời tản ra, sóng chầu về [phương] bắc
    Nồi (5) sôi sục, khói bay, lửa chuyển vào [phía] nam (6)
    Trên đỉnh núi, vẫy vẫy [trước] đèn (7), [thế là] tin tức [đã] gần tới
    Đầu chiếc thuyền, liếc nhìn [vào] tấm gương [ở mặt đồng hồ đo dặm, la bàn], nẻo đi [cũng] biết [được]
    Theo (cỡi) gió, vạn dặm, trở về dễ dàng
    [Chỉ một] thước ta, [một] tấc ta (: gang tấc), [đường đến Gia Định], [lại] chậm trễ, luần quần luẩn quẩn; vậy chẳng lẽ bùi tai (đành lòng) sao?!

    (1) Cần Giờ, nay thuộc địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

    (2) Phan Thiết, Bình Thuận, ĐNNTC., tập 3, sđd., tr. 128, 130.

    (3) Có thành ngữ “kê minh khuyển phệ” (gà gáy chó sủa), chỉ cảnh làng thôn (TĐHV., tập hạ, tr. 417). Ở đây, tác giả có lẽ chỉ nói phóng đại để cường điệu cảm giác sốt ruột, khó ngủ, suốt một đêm (rồi còn suốt một ngày cho đến khi trời xế chiều và suốt tối hôm sau), vì phải đợi lặng gió.

    Điển tích “kê minh” (một thiên trong Kinh Thi, nói về phong tục nước Tề, dân dậy sớm để làm việc [TĐTNTN., sđd., tr. 321]), có lẽ không phù hợp với ngữ cảnh này.

    (4) Núi Phi? ĐNNTC., tập 3, sđd., không ghi có ngọn núi nào là Phi hoặc Phi Sơn cả. Có lẽ đây là hòn núi nhỏ (xem sđd., tr. 134 - 139), không ghi, hoặc là núi Bà.

    (5) Nồi hơi nước của tàu thủy chạy bằng năng lượng này.

    (6) Ở vị trí Cần Giờ, Triều đình Huế thuộc về phương bắc. Chữ “nam” này cũng không viết hoa: hướng nam.

    (7) Có lẽ đó là một cách phát tín hiệu.

    49

    THUYỀN GẦN ĐẾN CẦN GIỜ,
    GẶP GIÓ NGƯỢC,
    KHÔNG ĐI TỚI ĐƯỢC

    Phan Thiết, một đêm gà rộn đầm
    Núi Phi chiều nhạt nửa sương thâm
    Biển ngời sao tản, khơi chầu bắc
    Nồi bỏng khói bay, lửa chuyển nam
    Đèn vẫy đỉnh non: tin báo tới
    Liếc gương đầu lái: dặm ngàn băng
    Vạn trùng theo gió lui thường dễ
    Gang tấc chậm, quành, không lẽ cam!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    Bài 50

    TẶNG DƯƠNG QUAN (GIA ĐỊNH
    TỈNH NHÂN) VÃNG HƯƠNG CẢNG


    Lục thất niên dư hựu nhất lai
    Ngã lai quân khứ lưỡng bồi hồi
    Khứ lai dị lộ quân tu kí
    Mạc sử lâm kì hữu sở xai (sai)!


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    50

    TẶNG QUAN [LÀM Ở CỬA] BIỂN (NGƯỜI
    TỈNH GIA ĐỊNH) (1) ĐI HƯƠNG CẢNG (2)

    Hơn sáu, bảy năm (3) [qua], [nay] lại một [lần] đến
    Tôi đến, ông (1) đi, cả hai dùng dằng bước lui, bước tới
    Đi [và] đến, khác con đường, ông nên ghi nhớ
    Đừng khiến đang lúc [gặp gỡ, chia tay vào dịp thế này]
    có điều gì suy xét, đong lường trước!

    (1) Tác giả dùng từ “dương quan”, với hai nghĩa: quan làm ở cửa biển; quan làm việc cho người ngoại quốc (tay sai của thực dân Pháp tại Nam Kì, vùng đất lục tỉnh ngày xưa đã bị Pháp xâm chiếm, từ 1862, 1867). Nguyễn Văn Tường ghi chú rõ bằng chữ cỡ nhỏ, trình bày khác hẳn (xin xem bản chữ Hán nguyên tác): “Người tỉnh Gia Định”. Hơn nữa, ở hai dòng thơ thứ hai, thứ ba, Nguyễn Văn Tường lại dùng đại từ “quân” để gọi y. “Quân” là từ các kẻ sĩ cùng lứa gọi nhau. (Xem TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 226; tập hạ, tr. 157). Lại căn cứ vào nội dung bài thơ, thấy rõ Nguyễn Văn Tường khẳng định dứt khoát: “Đi [và] đến, khác con đường, ông nên ghi nhớ”. Đến Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh) để đấu tranh, giành lại Nam Kì lục tỉnh. Đi Hương Cảng (Hongkong), làm tay sai theo lệnh Pháp. Rõ ràng, dứt khoát! Tuy khẳng định vỗ mặt như thế, vẫn không tránh khỏi chút bồi hồi về tình kẻ sĩ cũ, và chút phân vân về sự ngờ ngại, hiểu lầm từ phía sĩ phu và nhân dân (đánh đồng với Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành chẳng hạn!).

    (2) Hương Cảng (Hồng Công), nhượng địa của nước Trung Hoa dưới áp lực của thực dân Anh. Người Anh mới trao trả cho Trung Quốc vào năm 1997!

    (3) Theo ĐNTL.CB., sđd., tập 31, tr. 184, vào tháng chạp Đinh mão, năm Tự Đức thứ 20 (1867), Nguyễn Văn Tường lần đầu đến Gia Định, với chức vụ tùy biện trong phái đoàn Trần Tiễn Thành. Thời điểm đó, là từ 26. 12. 1867 – 24. 01. 1868. Nói cách khác, tháng chạp Đinh mão nói trên rơi vào khoảng đó của dương lịch (xem Vụ Bảo Tồn Bảo Tàng, Niên biểu Việt Nam, in lần 4, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1999, tr. 113 - 114). Và lần thứ hai, Nguyễn Văn Tường với chức vụ bồi sứ (Nguyễn Văn Phong, chánh sứ; Phan Đình Bình, phó sứ) lại đến Gia Định. Không rõ sứ bộ đi ngày nào, chắc là sau khi Trần Tiễn Thành thất bại trở về vào tháng 2 âm lịch, Mậu thìn (1868), (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 194). Có điều, lần về, tháng 3 âm lịch, Mậu thìn (từ 24. 3. 1868 đến 22. 4. 1868), Nguyễn Văn Tường lại thay mặt cả sứ bộ (tuy chỉ là bồi sứ, vị trí thứ ba trong sứ bộ), để trình bày âm mưu xâm lược Nam Kì lục tỉnh của thực dân Pháp. Ông quyết không chịu kí “hòa” ước mới, nhằm cứ để cho Pháp ở trong tình trạng bất hợp pháp. Lập luận riêng của Nguyễn Văn Tường: kí “hòa” ước mới là mắc mưu Pháp, chính thức hóa việc xâm chiếm Nam Kì lục tỉnh cho chúng, lại để sĩ phu lâm vào cảnh “ăn làm sao, nói làm sao” với chúng và với dân, một khi Triều đình đã thật sự bỏ rơi (“khí dân”) bằng hàng ước, nhượng ước chính thức, như hàng ước 1862! Cũng bản tấu ấy, ông chủ trương tăng cường binh lực để phòng thủ, giành lại Nam Kì lục tỉnh bằng sức mạnh vũ trang (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 202 - 204).

    Chú thích dài như thế để xin được hiểu rằng, bài thơ tứ tuyệt trên phản ánh khá cô đọng tâm trạng tác giả.

    Riêng ngữ “lục thất niên dư”, không phải là “hơn sáu, bảy năm”, mà là “cuối và ngoài năm 67 (1867)”? Biết đâu, tác giả lại dùng số chỉ năm theo dương lịch? Chắc chắn là không. Có điều, bài trên phải được sáng tác vào các năm 1868 + 6 = 1874; 1868 + 7 = 1875. Có lẽ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. “Hơn sáu, bảy năm” trước cho đến thời điểm bấy giờ và mãi về sau, tác giả vẫn kiên định một quan điểm, một chọn lựa trước hai con đường: “khác con đường, [...] nên ghi nhớ”!

    50

    TẶNG QUAN LÀM Ở CỬA BIỂN CHO
    TÂY, NGƯỜI TỈNH GIA ĐỊNH, ĐI
    HƯƠNG CẢNG

    Sáu, bảy năm hơn, đến một lần
    Anh đi, tôi đến, đều tần ngần
    Đến, đi, khác đường, anh nên nhớ
    Đừng để đang khi, tình phải cân!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ



    Bài 51

    TRÚ GIA ĐỊNH
    QUAN TÂY VIÊN HỮU CẢM


    Khách xá công dư hướng vãn thiên
    Xa hoành khúc kính quá đông biên
    Sổ lan mao giới giai tân vật
    Bán bức hoa cầm dị vãng niên
    Đối cảnh kham bi thùy tác chủ
    Phùng nhân nan đạo thử lai duyên
    Như hà tạo hóa do đa sự
    Không sử lê viên nhuận nhất biên.


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    51

    Ở GIA ĐỊNH (1), XEM VƯỜN (2) [CỦA] TÂY
    (3), CÓ CẢM XÚC

    [Ở] nhà khách, việc chung (4) [đã] thư thả, nhìn về [phía] trời chiều
    Xe [chạy] ven đường vòng, qua bờ sông [hướng] đông
    Vài chuồng [thú] lông, [loài có] vỏ, đều [là giống] vật mới (5)
    Nửa khoảnh hoa, chim [cũng] khác năm trước
    (đã qua) (6)
    [Đứng] trước cảnh [ấy], đành chịu buồn rầu, [rằng] ai làm chủ!?
    Gặp người [mình] khó nói (khơi mở) [về lẽ],
    ấy là nguyên nhân [tạo hậu quả]
    về sau (7) [cho chúng]
    Cớ nào tạo hóa còn loạn việc?
    Khi không xui khiến [đến] vườn lê (8),
    làm thừa lẻ ra một sự ghi chép (9).

    (1) Gia Định, nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

    (2) Thảo cầm viên (vườn cây chim) hiện nay (đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q. 1, TP. HCM.).

    (3) Tây, chỉ thực dân Pháp.

    (4) Lúc này Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường, đang bàn thảo với Dupré, Philastre, về điều ước 1874, hoặc ông cùng Nguyễn Tăng Doãn, với François Emily (?), định thương ước 1874 (kí ngày 31. 8. 1874, lễ thừa nhận diễn ra vào ngày 26. 8. 1875), (ĐNTL.CB., tập 33, tr. 9 - 10, 12, 22, 78, 87 - 88, 102 - 104, 111).

    (5) Ám chỉ bọn thực dân Pháp.

    (6) Ám chỉ người Việt mình làm tay chân cho thực dân Pháp.

    (7) Vận dụng khái niệm “nhân – quả” của tâm thức nông nghiệp cổ đại, của Phật giáo qua hai chữ “lai duyên”. Ý tác giả: Sở thú này chính là viễn cảnh tương lai của bọn Pháp, rằng chúng sẽ bị giam nhốt như các loài vật lông lá kia! Đồng thời, bày tỏ niềm lo âu: sự cộng tác của người Việt mình với thực dân, cũng tạo hậu quả về sau cho sự phát triển của dân tộc, đất nước. [Xem các trích đoạn những bản tấu về Nam Kì, bài viết của Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, KYHNKH., ĐHSP. TP. HCM. sđd., tr. 212 - 216, 40, và cũng hai bài ấy ở cuốn “KVQC. Nguyễn Văn Tường thi tập”, tư liệu Hội nghị trên, tr. 3 - 8, tr. 12].

    (8) “Lê viên”: Đường Minh Hoàng (nhà Đường, Trung Hoa) lập ra vườn lê viên, chọn một trăm người chuyên tập múa hát. “Lê viên”, nguyên nghĩa: vườn cây lê, lại có nghĩa là hí viện (nhà vui chơi, nhà hát). [Xem TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 496].

    (9) Các ghi chép về nội dung hội đàm, “bên lề” của sứ bộ, đại để là nhật kí để tấu trình cho nhà vua (còn gọi là nhật lịch), qua trung gian liên lạc giữa Triều đình và sứ bộ bởi một trung sứ – trung sứ là một viên chức có chức năng “con thoi” đó (chưa rõ vị trung sứ này tên gì). Ý Nguyễn Văn Tường ở câu này: “tin tức bổ sung cuối ngày”.

    51

    Ở GIA ĐỊNH,
    XEM VƯỜN THÚ TÂY LẬP, CẢM XÚC

    Nhà khách, trời chiều, việc sứ thưa
    Bờ đông, cong lối, ngựa xe đưa
    Nhiều chuồng lông lá (1) là loài mới
    Nửa khoảnh chim hoa khác vẻ xưa!
    Đối cảnh buồn ai: trò chủ cướp!
    Gặp người (2) bảo chúng:
    nghiệp riêng mua?(3)
    Cớ sao trời đất còn nhiều chuyện
    Khiến nỗi vườn hề (4) phải chép thừa!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Nguyên văn: “mao giới” (lông [và] vỏ). Lông và lá! Lá thay áo, thời hồng hoang nguyên thủy. Vải hay lá làm áo cũng là một thứ “vỏ” (mai rùa, vỏ cua...). Trong tiếng Việt, có từ ghép: lông lá, bọn lông lá.

    (2) Nguyên văn: “nhân”, chỉ con người, loài người nói chung, đối nghĩa với “vật” ở câu thứ ba.

    (3) Xem chú thích ở bản dịch nghĩa bài này. “Nhân lưa” là nhân sẽ lưu lại về sau, như một lời cảnh báo về luật nhân quả hiện thực, nhãn tiền. Tất nhiên, ở đây, nhà thơ Nguyễn Văn Tường chỉ mượn cớ để vẽ ra cảnh thực dân Pháp sẽ bị đền tội như lũ thú lông lá ở vườn thú, một cách rất thực tế, rất lịch sử.

    Bản dịch thơ này, xin tạm bỏ chữ “nan” (khó), thêm dấu hỏi, tỏ sự tự phân vân: nên hay không nên nói với người mình điều ấy.

    Có thể thay hai câu thơ dịch trên:

    Đối cảnh buồn ai dựng chủ cướp
    Gặp người bảo chúng tạo nhân lưa?


    (4) Tạm dịch, xem chú thích ở bản dịch nghĩa bài này.




    Bài 52

    QUÁ KIM CHƯƠNG TỰ


    Tằng hướng trường sinh thuyết tức ki (cơ)
    Bách niên thế sự bất thăng bi
    Các trung đế tử kim hà tại?
    Thành quách nhân dân bán dĩ phi!


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    52

    ĐI NGANG QUA CHÙA KIM CHƯƠNG (1)

    Từng trông vào [thuật] trường sinh, bàn luận [về] nhịp thở (2)
    Trăm năm, chuyện đời, không kìm được (: khôn xiết) buồn!
    Con vua (3) trong lầu gác [tại chùa], nay ở đâu?
    Thành lũy, nhân dân, một nửa đã mất! (4)

    (1) “Kim Chương tự”: chùa Bài Văn [bằng] Vàng. Chùa này ở Gia Định, nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Ngôi chùa này đã bị phá hủy từ thời Pháp xâm lược. Hình như pho tượng Phật lớn về sau được đưa vào Bảo tàng thuộc Thảo cầm viên tại Sài Gòn (TP. HCM). Xin xem chú thích (3) bài này.

    (2) Thuật trường sinh với phương pháp điều hòa nhịp thở, thuộc bộ môn khí công. Các môn phái dô-ga (yoga) ở Ấn Độ, đạo Lão, Thiền tông (Phật giáo) cổ xưa, hiện nay, đều có vận dụng, sáng tạo. Ngoài các thủ pháp quá đáng, cực đoan, như chuyên tập nín thở với các định mức càng lâu càng tốt (!),phép dưỡng sinh này hiện nay đã được khoa học chứng nghiệm là rất hữu ích. Ở nước ta, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, nhà nghiên cứu - phổ cập Nguyễn Minh Kính đã công bố nhiều công trình, tư liệu về thuật dưỡng sinh này. (Xem Senbec, Pocơrốpxki, Cooc-khin, Thể dục chữa bệnh ở nhà, Đào Duy Thư dịch, Nxb. TDTT., 1984).

    Cùng với câu thứ hai kế tiếp, tác giả muốn nói, trước cảnh mất nước, bị ngoại xâm, không cách nào giữ được lòng thanh tịnh, tâm không!

    (3) Minh Mạng được sinh ra tại một nơi, về sau, nơi ấy dựng thành chùa, ở tỉnh Gia Định. Ngôi chùa ấy là chùa Bài Văn Vàng (Kim Chương tự)? ĐNLT., tập 2, sđd., tr. 31, ghi rõ: “Năm Tân hợi (1791), hậu [Thuận thiên Cao hoàng hậu] 24 tuổi, sinh ra Thánh tổ Nhân hoàng đế [hoàng tử Đởm (Đảm), tức vua Minh Mạng] ở thôn Hoạt Lộc (thuộc Gia Định); khoảng năm Minh Mệnh [Mạng] dựng đền Khải Tường ở đấy”. Trần Trọng Kim ghi: “ở làng Tân Lộc, gần Sài Gòn bây giờ” (VNSL., sđd., bản 1999, tr. 420). Sài Gòn cũ và tỉnh Gia Định đều thuộc thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

    Theo chỗ chúng tôi biết, trên nền đền Khải Tường, đã xây dựng nên chùa Kim Chương. Chùa này bị Pháp phá hủy từ thuở ấy. Trên nền chùa cũ, hiện nay xây dựng Trung tâm Trưng bày tội ác chiến tranh xâm lược (1858 - 1988), (góc đường Võ Văn Tần – Lê Quý Đôn, Q. 1, tp. HCM.).

    Về câu thơ “Các trung đế tử kim hà tại?”: đây là nguyên văn một câu thơ của Vương Bột, nhà thơ đời Đường (Trung Hoa), trong bài “Đằng Vương các”, nhắc đến Lý Nguyên Anh, con của Đường Cao Tổ (Thơ Đường, tập 1, sđd., tr. 25). Có điều, cảm xúc của Vương Bột chỉ là nuối tiếc cảnh vàng son xa xỉ đã mất với niềm ngậm ngùi về nỗi vật đổi sao dời. So hai bài thơ, “Đằng Vương các” với “Quá Kim Chương tự”, ta thấy nỗi đau của Nguyễn Văn Tường lớn lao hơn, sâu thẳm hơn rất nhiều.

    Đằng Vương cao các lâm giang chử
    Bội ngọc minh loan bãi ca vũ
    Hoạ đống triêu phi Nam phố vân
    Châu liêm mộ quyển Tây sơn vũ
    Nhàn vân đàm ảnh nhật du du
    Vật hoán tinh di kỉ độ thu
    Các trung đế tử kim hà tại?
    Ngoại hạm trường giang không tự lưu
    .

    Gác Đằng cao ngất bãi sông thu
    Ngọc muá vàng reo nay thấy đâu?
    Nam phố mây mai quanh nóc vẽ
    Tây sơn mưa tối, cuốn rèm châu
    Đầm nước mây vờn ngày tháng trôi
    Mấy phen vật đổi với sao dời
    Đằng vương thuở trước giờ đâu tá?
    Sông lớn ngoài hiên luống chảy hoài.


    TƯƠNG NHƯ
    dịch thơ
    (sđd., tr. 26)

    Nhạc sĩ, nhà nghiên cứu Vũ Đức Sao Biển cũng đã từng so sánh ở bình diện rộng hơn (với cả nền thơ Đường – Tống) và cũng nhận định như thế. Hẳn không có gì là thiên vị hay quá lời chăng?

    Xem lại chú thích (1) bản dịch nghĩa bài thơ “Quá Kim Chương tự” này.

    (4) Chữ “phi”, có nghĩa là “không”, trái nghĩa với chữ “phải”... Nhân dân, thành quách đã mất một nửa! Nhất là nhân dân, còn sống đó, vẫn sinh sôi nẩy nở, nhưng... Không còn gì chua xót hơn! Cũng như hơn vạn người Bắc Kì cam làm tay sai cho Pháp, tổ chức bắt cóc Nguyễn Văn Tường, khi ông đành phải ra Hà Nội để kí hai thỏa ước nhằm triệt thoái quân Pháp ra khỏi Bắc Bộ (xem Tsuboi, NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 78). ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 359 ghi rõ: “Nguyên trước, An Nghiệp [Françis Garnier] mộ được 12.000 [một vạn hai ngàn] người, lẫn cả người đi lương, người đi đạo”; ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 356, ghi: “Tiến đến thành Hải Dương (trong thành hiện có viên quan một người Pháp và 30 tên lính đóng giữ), ngụy tổng đốc (tên là Trương, là người thợ rèn, theo giáo, nguyên là người An Nghiệp [F. Garnier] mới đặt) mưu bắt Văn Tường để phá hỏng việc. Văn Tường dò biết, mật bàn với quan nước Pháp, giải đưa xuống tàu giam lại...”. Tất nhiên lúc đó Pháp đã lật lọng với giáo dân, dân lương cam tâm làm tay sai! Tuy vậy, Nguyễn Văn Tường vẫn thận trọng: “... rồi tư ngay cho tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên đem quân đến (Bắc Ninh 400 người, Hưng Yên 200 người) và triệu tập lính tổng cộng được hơn 1000 người để sai phái”!

    Hải Dương cũng chẳng khác gì Gia Định! Đến như thế thì quả thật, “khôn xiết buồn”, đến nỗi ông phải thốt lên:

    “Thành quách, nhân dân, một nửa đã mất!”.

    Đồng cảm sâu sắc nỗi đau đó, về sau, khi kinh đô Huế đã thất thủ, Nguyễn Xuân Ôn (cũng như Nguyễn Đức Đạt) vẫn trung thành với Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết trong phong trào Cần vương (kẻ đánh người đàm); và Nguyễn Xuân Ôn đã hai lần lặp lại câu này trong hai bài thơ của ông, sáng tác sau khi bị giặc Pháp bắt, 1887 (xem: ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 138; Thơ văn NXÔ., sđd., tr. 160 và 182).

    52

    ĐI NGANG QUA CHÙA KIM CHƯƠNG

    Theo thuật trường sinh bàn thở sâu
    Trăm năm khôn xiết việc đời sầu!
    “Con vua trong gác nay đâu nhỉ?”
    Thành quách, nhân dân, một nửa đâu!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ



    Bài 53

    ĐỀ BÌNH TÂY TƯỚNG QUÂN LÊ
    QUẬN CÔNG MỘ
    (MỖI CÚ HỮU SỔ MỤC TỰ)


    Nam tử đương vi nhất thế hùng
    Bán thiên ứng vận kỉ như công!
    Lưỡng kì sử tải khôi cương tích
    Bách chiến nhân suy (thôi) hỗ giá công
    Tam xích hiệp (1) phong tồn cố liệp
    Cửu nguyên cô phẫn khởi lương cung
    Vị khôi thất thập niên tiền sự
    Tụng biến bình Tây lục tỉnh trung.


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    (1) Luân? Có lẽ “luân”, đúng hơn.

    53

    NÊU LÊN [NHỮNG SUY NGHĨ TRƯỚC] MỒ
    BÌNH TÂY TƯỚNG QUÂN [ĐƯỢC PHONG
    TƯỚC] QUẬN CÔNG [HỌ] LÊ (1) (a)

    Người đàn ông (a) [cần] gánh vác công việc, làm [nên] một đời hào hùng (a)
    Nửa nghìn [binh tướng] ứng theo thời vận [“triều đại”] (2), mấy [ai] như ông (quận công) (1) (a)
    Hai miền (3) [Tổ quốc], sử sách chuyên chở [truyền bá] công lao to lớn (a) [cầm] dây cương ngựa (4)
    Trăm trận chiến, người [đời] suy tôn [về] công phò giúp xe chúa (5)
    Ba thước (a) [kiếm, gươm], sự phong tặng [lúc thế đang] chìm đắm (6) (hoặc: trong sự hòa hợp) vẫn còn [những] sợi tua [chuôi kiếm] cũ
    Chín đồng bằng (a), nỗi căm giận [giữa thời phải chịu] lẻ loi khởi đầu cho cây cung tốt (7)
    Chưa tro tàn (a) chuyện cũ bảy mươi năm trước
    [Người đời] ngợi khen khắp cả [về công trạng] dẹp yên
    Tây [Sơn] (8) giữa sáu tỉnh [Nam Kì (xưa)].

    (1) Lê Văn Duyệt, người Định Tường (tỉnh thời Nguyễn, nay là Đồng Tháp, Bến Tre, Mỹ Tho...); quê gốc: Quảng Ngãi. Ông có công với Nguyễn Ánh, chống nhà Tây Sơn (triều đại do vua Quang Trung, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, đánh Nguyễn, dẹp Lê-Trịnh, chiến thắng quân Thanh [Trung Hoa], quân Xiêm [Thái Lan], lập nên). Lê Văn Duyệt thuộc loại công thần bậc nhất của triều Nguyễn, thời Nguyễn Ánh (Gia Long). Về sau, do con nuôi là Lê Văn Khôi (vốn tên Nguyễn Hữu Khôi, người Cao Bằng) nổi loạn ở Gia Định, nên ông bị Minh Mạng truy các tội cũ, san bằng mộ và dựng bia với tám chữ ngay trên mộ san bằng ấy: “Quyền yêm Lê Văn Duyệt chịu hình pháp” (dịch từ nguyên văn chữ Hán). Đến thời Thiệu Trị, được giảm án, rồi đến khi vua Tự Đức lên ngôi (1841), bản án ấy một lần nữa được xem xét lại, minh oan phần nào, và tha tội (1849).

    [Xin xem ĐNLT., tập 2, Nxb. Thuận Hóa, 1993, tr. 373 – 414; ĐNNTC., tập 2, sđd., tr.444 – 445: viết gọn hơn, ở mục “Nhân vật” của chương “Tỉnh Quảng Ngãi”].

    Hiện nay khu mộ Lê Văn Duyệt ở bên cạnh chợ Bà Chiểu, thành phố Hồ Chí Minh, vẫn được nhang khói phụng thờ. Tuy người mê tín vẫn còn lén lút xin xăm, bói toán, sùng bái gọi là Lăng Ông, nhưng đa số vẫn hiểu đấy chỉ là di tích lịch sử.

    Dẫu sao, Lê Văn Duyệt cũng không phải là người có công chống ngoại xâm, mà chỉ là danh tướng giúp Nguyễn Ánh lập nên triều Nguyễn, thống nhất đất nước (sự nghiệp thống nhất Đàng Trong, Đàng Ngoài, công chính vẫn là của Quang Trung Nguyễn Huệ, mà Gia Long Nguyễn Ánh chỉ thừa kế). Xin xem tiếp ở chú thích (8) bài này.

    (2) Tác giả nhắc đến việc các binh tướng phò Nguyễn Ánh, lúc chúa Nguyễn bị Tây Sơn đánh bại. Chúng tôi tạm hiểu hai chữ “ứng vận” (đáp ứng vận nước) là như thế (vận “triều đại” Nguyễn). Bởi lẽ triều Nguyễn chính thức xưng đế, từ 1802, nhưng Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm đất Thuận Hóa, từ 1558, nghĩa là từ 224 năm về trước. Nếu đánh giá với quan điểm lịch sử – cụ thể, thì sự nghiệp của chúa Nguyễn và triều Nguyễn có bề dày như vậy. Thời phong kiến quân chủ, Đất Nước chỉ là cơ nghiệp của một dòng họ (hoàng tộc)... Xin xem chú thích (6) bài này.

    (3) Nước ta từ Nam Quan đến Cà Mau, thời Nguyễn, trên danh từ về địa giới hành chính, thay vì gọi Đàng Ngoài (từ sông Gianh trở ra), Đàng Trong (từ sông Gianh trở vào), thì gọi là Trung Kì, Bắc Kì, Nam Kì. Trung Kì gồm: hữu kì (từ Hà Tĩnh trở ra), tả kì (từ Bình Định trở vào), lấy Quảng Nam, Quảng Ngãi làm tả trực kì, Quảng Bình làm hữu trực kì, lấy Thừa Thiên (gồm cả đạo Quảng Trị) làm kinh sư (trực kì), [ĐNTL.CB., tập 30., sđd., tr. 72, chú thích của Viện Sử học]. Ngoài ra, cũng còn có cách gọi: lưỡng kì Nam – Bắc, gồm tả kì (từ Huế trở vào) và hữu kì (từ Huế trở ra).

    (4) Chữ “cương” trong từ ghép “cương tỏa”. “Cương” là dây buộc, điều khiển ngựa. “Tỏa” là hàm sắt khóa miệng ngựa để ngựa khỏi dừng lại ăn cỏ dọc đường (xem TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 142). Ở ngữ cảnh này, là tài cầm cương, tức là tài điều quân khiển tướng. Ngôn từ còn có tính phong kiến chuyên chế hiện nay vẫn còn lắm người sử dụng, bởi ngôn ngữ ở nước nào cũng có tình trạng chung ấy.

    (5) Nguyễn Ánh thực sự lên ngôi hoàng đế (vua) vào năm 1802. Trước đó vẫn được gọi là chúa, “quốc chúa” (mặc dù Nguyễn Phúc Khoát, 1744, đã xưng vương hiệu: Võ vương). Ở câu thơ này, Nguyễn Văn Tường nhắc lại công phò Nguyễn Ánh của Lê Văn Duyệt lúc vị chúa này còn phải bôn tẩu ra Côn Đảo, Phú Quốc, sang Xiêm La (Thái Lan). Cũng có thể hiểu là công hộ tống vua Cao Miên về nước.

    (6) Lúc Nguyễn Ánh còn bôn tẩu, chịu lắm nỗi cơ cực để quyết giành lại cơ nghiệp chúa Nguyễn đã dày công mở cõi ở Đàng Trong, Lê Văn Duyệt còn là thái giám hầu cận nội cung.

    (7) Cung, kiếm, hai loại binh khí, tượng trưng cho tài năng quân sự của Lê Văn Duyệt (mặc dù Lê Văn Duyệt tính hơi dữ tợn, lại xét án trong khi xử tội quân lính khá tàn bạo; xem ĐNLT., tập 2, sđd., tr. 379 và ĐNNTC., tập 2, sđd., tr. 444). Xem chú thích (8.a) bài này, phía sau.

    (8) Ngay từ năm 1919, dưới thời nhà Nguyễn chịu thuộc Pháp, Trần Trọng Kim đã xác định tài năng và đức độ vua Quang Trung, coi Tây Sơn là triều đại chính thống (xem VNSL., sđd., bản 1964, tr. 359, 380 - 381; bản 1999, tr. 395, 407). Tuy nhiên, thời bấy giờ, 1885 trở về trước, nhiều người hẳn không chịu quy phục Quang Trung, vì nhớ “ơn mở cõi” của chúa Nguyễn, vì anh em nhà Tây Sơn bất hòa, và vì lí do chính (lí do chính này lại bền vững): nhà Tây Sơn có gốc gác lâu đời ở Trung Hoa (người Tàu lai làm vua nước ta là nhục quốc thể, cho dù nhà Tây Sơn không thuộc gốc Hán tộc).

    Nguyễn Văn Tường là trung thần của triều Nguyễn trong điều kiện lịch sử – cụ thể với những hạn chế của thời đại. Ông không thể phụ công ơn lớn hơn mọi công ơn khác, có thể sánh với công ơn giành độc lập, chống ngoại xâm cho dân tộc, ấy là “công ơn mở cõi” của chúa Nguyễn, triều Nguyễn. Do đó, hẳn ông vẫn xem nhà Tây Sơn là nghịch tặc, không chịu hiểu rằng, sự chia cắt Đất Nước hơn hai trăm năm là tội lỗi đối với xương máu dân tộc của cả Nguyễn lẫn Trịnh thời phân tranh, mà Quang Trung lại có công thống nhất (dù còn cát cứ do nội bộ ba anh em). Nhưng Nguyễn Văn Tường cũng như bao trung thần của triều Nguyễn vẫn có lí của họ, không chịu nhục quốc thể (dân tộc ta không còn ai sao, lại để người Tàu lai làm vua nước Việt!), như đã nói trên.

    Lịch sử có những oái oăm và những vấn nạn của nó. Đấy là những khó khăn thật sự. Đến nay, năm 2000, đã dễ gì có câu trả lời thỏa đáng, nếu chúng ta không có cái nhìn lịch sử – cụ thể. Nói rõ hơn, có những tâm trạng, ý nghĩ, những giá trị vật chất, tinh thần chỉ được chấp nhận, thấu hiểu ở một giai đoạn lịch sử với không gian, thời gian nhất định, lại cũng có những giá trị vĩnh cửu, thuộc về muôn thuở, như lòng yêu Tổ quốc, dân tộc, ý chí chống ngoại xâm, như tình yêu đôi lứa, tình yêu thiên nhiên và nhân loại...

    Do đó, “ơn mở cõi” của chúa Nguyễn đã trở thành “sự đã rồi” của lịch sử nước ta, cũng tương tự như “sự đã rồi” của hầu hết các nước trên thế giới, dẫu chúng ta khai hoang lập ấp là chính! Chúng tôi cũng từng cảm xúc về thuở mở nước ấy:

    “... Sân đình lặng nhớ cha ông
    Thuở nào mở đất dắt bồng cháu con
    Hoang vu chí ngợp vai sờn
    Ngoảnh về cố quận, hoàng hôn cháy lòng”...


    Và có khiên cưỡng không, với sự mở rộng vấn đề ra quá mức của một chú thích thế này, trong khi Nguyễn Văn Tường chỉ nêu vấn đề của công thần triều Nguyễn là Lê Văn Duyệt để chia sẻ niềm cảm xúc, suy tưởng và chỉ nhẹ nhàng nhắc đến nhà Tây Sơn?

    (a) Nhà thơ Nguyễn Văn Tường có ghi chú ngay dưới đầu đề một dòng chữ cỡ nhỏ, nhỏ hơn cỡ chữ chép thơ bình thường của ông: “Mỗi cú hữu sổ mục tự” (“mỗi câu có vài chữ số” [số mục]). Ngoài ra, thiết tưởng cũng nên lưu ý đến các nhãn tự (chữ mắt) trong bài thơ này. Có lẽ nhà thơ muốn khẳng định về mặt cá tính, Lê Văn Duyệt là một trang nam tử hẳn hoi, mặc dù có tật bẩm sinh sinh thực khí, lại xứng đáng là hùng (giống đực; dũng mãnh). Nhà thơ trân trọng gọi ông đúng tước được phong: công. Trong bài có hai chữ “khôi”, ở câu 3 và câu 7, tuy đồng âm nhưng phải dùng mắt để thấy khác mặt chữ với tên Khôi (Lê Văn Khôi, xem VNSL., sđd., bản 1999, tr. 473). Đặc biệt là “tam xích” và “cửu nguyên”, đều trùng âm, đồng mặt chữ nhưng có thể hiểu hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất ở bản dịch nghĩa bài này. Nghĩa thứ hai, ở hai câu tạm dịch nghĩa như sau: “Luật pháp ghi ở ba thước thẻ tre đã xử “tội” ông, [nhưng] sự phong tặng [lúc thế đang] chìm đắm vẫn còn chuôi [kiếm] cũ; Chín nguyên tội được tha, [vẫn nhớ] nỗi căm giận [giữa thời phải chịu] lẻ loi đã khởi đầu cho cây cung tốt”.

    Vua Minh Mạng và đình thần đã kết án Lê Văn Duyệt “cửu nguyên”, trong đó có bảy tội xử trảm, hai tội xử giảo. “Cửu nguyên” ấy còn dẫn đến đề nghị: thu hết bằng sắc, bổ quan tài ra chém xác để tỏ gương răn (về sau, không quật mộ giết thây mà thay vào đó là dựng bia răn ở mồ chôn, ở nhà học). Vua Minh Mạng còn ra dụ:

    “Dụ nay cho chép ra, phát cho kinh ngoại mỗi nơi một đạo, để cho đều biết triều đình hành pháp rất là chí công: rõ ràng cán cân công bằng, luật ba thước oai nghiêm rìu búa, phép ngàn thu” (xem ĐNLT., tập 2, sđd., tr. 407 - 409). “Tam xích” còn có nghĩa như vậy.

    53

    NÊU LÊN NHỮNG SUY NGHĨ TRƯỚC
    NGÔI MỘ BÌNH TÂY TƯỚNG QUÂN
    ĐƯỢC PHONG TƯỚC QUẬN CÔNG
    LÊ VĂN DUYỆT

    Gánh việc, thân trai một kiếp hùng
    Nửa ngàn đáp vận ai như ông?
    Hai miền sử chuyển: cầm cương búa (1)
    Trăm trận người tôn: phò chúa công
    “Ba thước” lặng phong còn tích cũ
    “Chín miền” riêng hận dậy cung đồng
    Chưa tàn, chuyện bảy mươi năm trước!
    Ca khắp: Bình Tây, đất Cửu Long.


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Tạm ghép thành từ cương buá. Cương để điều khiển ngựa, búa để điều khiển voi. “Cương [và] búa” là từ ghép đẳng lập, đối với “chúa [và] công”.

    9. NGUYEN VAN TUONG (1824 - 1886) -- THO -- VAI NET VE CON NGUOI, TAM HON & TU TUONG / Tệp 9

    Bài 27

    KÍ SƠN THỨ THAM TÁN ÔNG,
    TÁN LÍ TRẦN


    Thanh hạ phong huân kham giải phụ
    Liên hồ nguyên bất đáo đông hàn
    Tuyên thành kỉ tích di bi tại
    Kí đạo chư quân thí nhất khan.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    27

    GỞI THAM TÁN ÔNG ÍCH KHIÊM VÀ
    TÁN LÍ TRẦN Ở QUÂN THỨ SƠN TÂY

    Gió mát, hè trong giải khổ phiền
    Hồ sen chẳng vẹn tới đông thiên
    Thành Tuyên công trạng còn bia đó
    Xin nhắn chư quân thử đến xem.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    27

    GỞI THAM TÁN HỌ ÔNG (1)
    VÀ TÁN LÍ HỌ TRẦN (2), QUÂN THỨ SƠN (3)

    Mùa hè trong xanh, quạt [gió] ấm áp, vui vẻ,
    hình núi kì quái (:chiến công kì thú
    và tinh quái) [đã] giải cứu gò đụn (4)
    [Muốn ngắm] Sen Hồ nguyên vẹn, đừng đến [nhé, vào tiết] mùa đông lạnh lẽo (hoặc: Sen Hồ vốn
    chẳng [nên] đến [vào tiết trời] đông lạnh lẽo) (5)
    [Ở] thành Tuyên [Quang], bia lưu chép dấu tích [chiến công] còn lại [mãi mãi] (6)
    Nhắn gửi các bạn thử một lần [đến] xem! (7)

    (1) Ông Ích Khiêm (ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 189, tr. 225...; ĐNLT., tập 4, tr. 278 - 279). ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 342, ghi rõ: “Trong thành có một quả núi bằng đất”. Phải chăng chữ “phụ” trong bản nguyên tác chữ Hán chính là gò núi này?

    (2) Trần Thiện Chính (ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 156, tr. 231...; ĐNTL.., sđd., tập 4, tr. 218).

    (3) Sơn Tây (ĐNTL.CB., tập 31, tr. 365 - 366, 383...).

    (4) ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 27, 33..., đặc biệt, tr. 172, 189.

    (5) Về hai chữ “nguyên bất”, Nguyễn Du có câu: “Hoài quy nguyên bất đãi thu phong”; PGs. Ts. Mai Quốc Liên dịch nghĩa: “[Thì] lòng muốn về vốn chẳng [cần] đợi gió thu [thổi]” (Nguyễn Du toàn tập, tập I, sđd., tr. 213 - 214). Tuy nhiên, câu này hẳn phải dịch đúng với chất thơ: với thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, đảo trang, tác giả khuyên mùa đông lạnh lẽo đừng bao giờ đến nơi dựng bia chiến tích, để nơi ấy quanh năm nguyên vẹn hồ sen nở hoa, hạ xanh, gió mát...

    Sen Hồ còn là một địa danh, nơi mà có lần Ông Ích Khiêm lập được chiến công. ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 172, ghi rõ:

    “Tháng mười hai, có toán giặc chiếm giữ đồn lớn ở xã Sen Hồ (thuộc tỉnh Sơn Tây), đem bè lũ đến đánh [quân ta] kịch liệt. Bọn tham tán là ông Ích Khiêm, tán lí là Trần Thiện Chính mật phái quân cảm tử ngầm đem thuốc cháy bắn ra để đốt. Bọn giặc tan vỡ, chạy cả. Việc ấy tâu lên; thưởng cho có thứ bậc”.

    Tưởng cũng cần nhắc thêm chi tiết:

    “Phó đề đốc là Trần Mân, tham tán là Ông Ích Khiêm, tán lí là Nguyễn Văn Tường đánh, phá tan bọn giặc trốn nước Thanh ở đồn Thanh Dã tỉnh Thái Nguyên. Chuẩn cho được thăng thưởng có thứ bậc” (ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 189).

    (6) Đây là chiến công thu phục lại thành Tuyên Quang của quân thứ Sơn Tây dưới sự chỉ huy trực tiếp của đề đốc Phạm Hữu Xuân, phó đề đốc là Vũ Tảo, thương biện tỉnh vụ Nguyễn Hữu Xuân, vào tháng ba âm lịch năm Quý hợi (02. 1863). (Xem: ĐNTL.CB., tập 30, sđd., tr. 12 – 13).

    Tất nhiên quân thứ Sơn Tây được đặt dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Bá Nghi, nhất là vai trò Ông Ích Khiêm, Trần Thiện Chính.

    Chiến công này cùng chiến công ở Sen Hồ đã được khắc trên bia đá lưu niệm? Hay tác giả muốn so sánh hai chiến công lừng lẫy? Xin xem chú thích (1) bản dịch thơ.

    (7) Về sau, Ông Ích Khiêm được trọng dụng ở Triều đình Huế, được phong tước nam, hàm thị lang Bộ Binh, có đóng góp công sức trực tiếp vào việc bảo vệ cửa biển hải phòng Thuận An (1883), trực tiếp thi hành án Hiệp Hòa với lệ “tam ban triều điển” cùng Trương Văn Đễ, Trần Xuân Soạn. Nhưng rất tiếc, vì ngộ nhận, do bị phe chủ “hòa” và bọn Rheinart, De Champeaux, Caspar tung tin bôi xấu sau cái chết của Kiến Phúc (do Hồng Hưu, Dục Đức chủ mưu), Ông Ích Khiêm đã tha hóa, làm càn và sống buông thả (phạm pháp vào tháng 05 Giáp thân, 1884 [ĐNLT., tập 3, sđd., tr. 281]). Sự tha hóa, phản bội của Ông Ích Khiêm phản ánh rõ sự rạn nứt, phân hóa của nhóm chủ chiến trước sự gây rối ren, lũng đoạn của Pháp và tả đạo (ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 163 - 164).

    7.1. Các nhà viết sử sau này thường nói đến tài năng văn chương, quân sự, cùng tính cuồng phóng đến thành bệnh tâm hỏa của Ông Ích Khiêm, về giai thoại “khi quân”, mời các quan ăn thịt chó, vờ bảo người nhà quên pha nước để “chửi đời”, tất cả đều là “đồ chó”, “ham ăn, quên nước quên non”. Các nhà sử học cũng đoán rằng, hai câu đối:

    Nhất giang lưỡng quốc ngôn nan Thuyết
    Tứ nguyệt tam vương triệu bất Tường


    là của Ông Ích Khiêm. Ngoài ra, cũng nhắc đến mối bất hòa cũ giữa Tôn Thất Thuyết và Ông Ích Khiêm, thời còn tiễu phỉ ở biên ải phía bắc (ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 198; ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 279 - 282):

    “Tổng đốc Bắc [Ninh] là Lê Thuyết [tức Tôn Thất Thuyết, sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi, 1885, bị Đồng Khánh tước họ Tôn Thất, đổi lấy họ ngoại – nbs.] thấy Ích Khiêm đánh trận tổn hại nhiều và tự tiện đem quân về không theo tướng lệnh, bèn bắt khóa giam lại, tâu xin xử trí. Khiêm liền bị triệt về kinh chờ án. Nhân mắc bệnh tâm hỏa, được cho về” (trích ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 280).

    Riêng về vụ án dẫn đến cái chết trong ngục ở Bình Thuận của Ông Ích Khiêm, là do ngự sử Đào Hữu Ích đàn hặc. Ngay trong thời Hàm Nghi, ông đã được Triều đình cho truy phục hàm thị độc và cấp tuất (ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 281; ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 163 - 164: bản án có ghi rõ).

    7.2. Có lẽ ĐNTL.CB., ĐNLT. đều đã viết quá mức sự thật về ông cũng như về nhóm chủ chiến trong Triều đình Huế bấy giờ. Chúng tôi đã có ý kiến riêng về ông ở đoạn trên trong chú thích này. Xin được nhắc lại: nguyên nhân sâu xa là do bản tính của ông (tội “khi quân”, khinh vua – chưa kể tội “vi binh”, xem thường quân luật – là tội rất nặng, lẽ ra phải bị tử hình, nếu giai thoại truyền khẩu là đúng sự thật), kế đó là do sự gây rối ren, lũng đoạn của Pháp và phe chủ “hòa”, dẫn đến sự ngộ nhận trong nội bộ nhóm chủ chiến, sự tha hóa, phản bội của danh tướng Ông Ích Khiêm. Ông đã mắc kế li gián của giặc. Cũng như đã có lần, cũng với bản tính nóng nảy, Tôn Thất Thuyết gây mất đoàn kết với Nguyễn Văn Tường, tố cáo Nguyễn Văn Tường ăn của đút, cho tiêu thụ tiền sềnh, nhưng vua Tự Đức đã kịp thời thanh minh cho Nguyễn Văn Tường (ĐNTL.CB., tập 34, tr. 370). Tôn Thất Thuyết mắc mưu vu khống của Rheinart (ĐNTL.CB., tập 34, tr. 341)! Về sau, lúc đã trở thành đường quan (đại thần), có quyền lực, thắm thiết trong quan hệ đồng chí chủ chiến với Nguyễn Văn Tường, nhất là lúc chạm vào thực tiễn phức tạp do sự lũng đoạn của Pháp lẫn con buôn người Hoa, Tôn Thất Thuyết (và cả Phạm Thận Duật, thay nhau làm thượng thư Bộ Hộ) cũng đành chấp nhận biện pháp đánh thuế tiền sềnh đi đôi với việc dùng hình pháp nặng, như đã tử hình Lí Thành Long (con buôn người Hoa). Biện pháp ấy trước đó, thời Tự Đức còn sống, Hoàng Diệu, Lâm Hoành cũng đã đề nghị: khó ngăn cấm được sự lũng đoạn của Tàu, Pháp về tiền tệ vì dân nghèo đã dùng lỡ đa số nhân dân lại hám lợi nhỏ (tiền) mà quên hại lớn (kinh tế xã hội). Hơn nữa, tiền sềnh đã tràn lan từ trước (thời Phạm Phú Thứ làm thượng thư Bộ Hộ) [ĐNTL.CB., bộ sđd., tập 31, tr. 48; tập 32, tr. 104; tập 34, tr. 176 - 178, 279, 304, 355, đặc biệt là tr. 341 và 370; tập 35, tr. 23, 47; tập 36, tr. 183 - 184]. Ông Ích Khiêm cũng có cùng một tính nóng nảy, phát ngôn thiếu kìm chế, ở mức độ chẳng khác gì Tôn Thất Thuyết, nên dễ va chạm nhau. Cả hai do đó, cũng dễ sa vào mưu li gián của thực dân Pháp, như tên khâm sứ Rheinart thâm độc, De Champeaux gian hiểm, quyết “đập tan tành” Nguyễn Văn Tường và li gián cả nhóm chủ chiến Triều đình Huế, cũng như Hector, Silvestre thời Đồng Khánh đã dã tâm vạch kế hoạch tuyên truyền bôi nhọ, li gián những con người yêu nước mà đứng đầu là Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết (li gián ngay cả sau 05. 7. 1885).

    Ở đây, về Ông Ích Khiêm nói riêng, về cả nhóm chủ chiến nói chung, chúng tôi chỉ rút tỉa, đãi lọc những sự kiện đã được sử sách đủ mọi nguồn ghi nhận, để đánh giá, nhìn nhận theo quan điểm khác, không phải là quan điểm của thực dân lộ mặt, thực dân đội lốt Thiên Chúa giáo, quan điểm của bọn ngụy, tay sai, kể cả quan điểm của những người yêu nước mù lòa về nhận thức, nhận thức chính trị với tư duy giản đơn (tác giả vè “Thất thủ Thuận An”, vè “Thất thủ kinh đô”, chẳng hạn), hoặc mị yêu nước để bôi nhọ người yêu nước chân chính. Họ đã bôi nhọ đủ cách thức, kể cả việc chế tạo ra tư liệu giả, bịa ra những sự kiện không có thật đến mức phi lí (*a)!

    27

    GỬI ÔNG ÍCH KHIÊM
    VÀ TRẦN THIỆN CHÍNH
    Ở QUÂN THỨ SƠN TÂY

    Gió ấm, hạ xanh: gò cứu đụn (1)
    Rét đông khôn đến: hồ nguyên sen (2)!
    Thành Tuyên, kỉ tích bia lưu mãi
    Nhắn gửi mọi người thử tới xem (2).


    (bản biên soạn 27/1)

    Hạ biếc quạt nồng thông được núi (1)
    Sen Hồ vốn chẳng trọn hàn đông (1)
    Thành Tuyên chép tích bia lưu đó
    Nhắn gửi các anh thử đến trông.


    (bản biên soạn 27/1)

    (1) Xin xem lại chú thích (1) ở bản dịch nghĩa bài này. Hai câu trên cũng có thể dịch như ở bản 27/2 bởi chữ “giải” còn có nghĩa “hiểu rõ”, chữ “đáo” còn có nghĩa thứ hai là đến nơi đến chốn, đủ khắp (chu đáo), khớp với văn cảnh. Nếu dịch như bản 27/2, đại ý của bài thơ là: Nguyễn Văn Tường muốn động viên Ông Ích Khiêm, Trần Thiện Chính và cả bản thân ông rằng, chiến công ở Sen Hồ tuy rất đáng trân trọng, nhưng e chưa đủ để lưu lại trên bia đá biển đồng như chiến công tái chiếm lại thành Tuyên Quang; vì thế cần phải cố gắng lập chiến công tương đương hoặc lớn hơn cả chiến công tái chiếm thành Tuyên Quang ấy.

    (2) Qua bài thơ đầy yêu mến của Nguyễn Văn Tường đối với Ông Ích Khiêm, Trần Thiện Chính, người đọc còn thấy được niềm cảm phục chân thành của chính Nguyễn Văn Tường dành cho hai người bạn chiến đấu của mình.

    Mối quan hệ giữa Ông Ích Khiêm và Nguyễn Văn Tường luôn tốt đẹp, không phải chỉ trong thời gian tiễu phỉ ở phía Bắc, mà mãi cho đến1884 (theo suốt các tập ĐNTL.CB., từ tập 28 đến tập 36). Tất nhiên, ngoại trừ lúc Ông Ích Khiêm đã phản bội, tha hóa, vi phạm pháp luật của triều đình mà không một ai có thể cứu được!

    Thiết tưởng cũng cần ghi rõ thêm: Trong các nhân vật chủ chiến nổi bật của Triều đình Huế, (trừ trường hợp Trương Văn Đễ (*b)), chỉ mỗi một mình Ông Ích Khiêm có tiểu truyện riêng trong Đại Nam liệt truyện (tập 4, sđd., tr. 279 - 282). Phải chăng đó là “ân huệ” cho kẻ đã li khai khỏi nhóm chủ chiến và đã phản bội những đồng chí của mình?

    Tuy nhiên, ĐNLT. bị cất vào kho sử sau khi khắc in (sđd., tập 3, tr. 5 - 8), chỉ có ĐNTL.CB, đệ lục kỉ, tập 37 và tập 38, là được phổ biến rộng rãi khắp nước (lời tâu của QSQTN., sđd., tập 37, tr. 8), dưới ách “bảo hộ” vốn rất thâm độc của thực dân Pháp, trong xiềng xích bảo hoàng của Triều đình Nguyễn. Do đó, nhận thức của xã hội nói chung là sai lệch (cộng với tác hại do các hình thức tuyên truyền khác của tả đạo, thực dân như vè TTKĐ., nên lại càng rối nhiễu), bởi lẽ, mấy ai hiểu ra cách đánh giá ngược, mặc dù đã được ghi ở lời phàm lệ (sđd., tr. 16) (*c)!


    Cước chú của bài thơ số 27, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*a) Vè “Thất thủ kinh đô”, theo chúng tôi, cũng rơi vào quỹ đạo của luận điệu tuyên truyền do Pháp và Triều đình Đồng Khánh tung ra. Đây là một thủ đoạn rất tinh vi của thực dân Pháp; hoặc do dân gian mù lòa trong nhận thức, nhận thức chính trị với tư duy đơn giản kiểu rạch ròi, tuyến tính cứng nhắc trong các vở tuồng cổ, cải lương, chèo cổ, mà vô hình trung có lợi cho Pháp và bọn tay sai.

    Ca ngợi Tôn Thất Thuyết lại bằng những câu:

    “Chú nào con vợ chưa thành
    Cho về sở định sở sanh việc nhà
    Chú nào lưa mẹ còn cha
    Cho về bảo dưỡng, vậy mà đừng đi”


    Có nhà sử học, nhà văn cho rằng đấy là chủ nghĩa nhân đạo của Tôn Thất Thuyết!

    Không đời nào có kiểu tuyển quân kháng chiến kì quặc với các tiêu chuẩn như thế. Thế thì chẳng còn người lính kháng chiến nào hết (chỉ chọn người đã mồ côi cha mẹ và đã có vợ con!). “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” (tục ngữ), “mỗi người làm một trận” (Nguyễn Trãi), “đàn ông nào, đàn bà nào, thấy Tây cứ chém phứa, thấy Nhật cứ chặt nhào” (Hồ Chí Minh), chứ đâu phải tuyển quân kiểu đó! Tuyển quân kiểu đó, không phải kháng chiến, mà chỉ “băng mình tếch dặm sơn phòng náu nương” (VTTKĐ., câu 1036)!

    Vè “Thất thủ kinh đô” chỉ minh họa theo luận điệu của thực dân Pháp và Triều đình Đồng Khánh: Tôn Thất Thuyết chỉ tìm kế thoát thân, chứ chẳng kháng chiến gì cả.

    Vè “Thất thủ kinh đô” đã bắn vào tim Tôn Thất Thuyết viên đạn bọc đường: giết chết nhân cách Tôn Thất Thuyết bằng viên kẹo ca ngợi ngọt lịm mà bên trong là mũi đạn có thuốc súng công phá.

    Còn với Nguyễn Văn Tường, vè “Thất thủ kinh đô” triệt hạ cả tư cách, phong độ lẫn lập trường chính trị. Tuy vậy, vẫn nói rõ: đến mức không thể hòa hoãn với Pháp được nữa, bởi Pháp cố tình gây hấn, dùng kế khích tướng, ép Triều đình một cách ngạo mạn, ông đã bày tỏ thái độ (tuy bị nhu nhược hóa!):

    “Ai có tài ra chốn binh đao
    Miễn yên nhà [yên] nước, lẽ nào dám can”

    (VTTKĐ., câu 633 - 634)

    Và ở đoạn kết, lúc kinh đô Huế đã thất thủ:

    Đô thành, quan Quận giao hòa
    Lựa chiều hơn thiệt nói mà với Tây
    Tây phiên gẫm vẫn giận thay:
    – “Đem lòng cự chiến còn đến đây
    làm gì?
    May mà Nam Việt bại suy
    Tây mà bại, đạo phen ni cũng không
    còn...”

    (VTTKĐ., 1335 - 1340)

    Quan một cho đến quan ba
    Quan năm quan sáu vậy mà cũng nghe
    Đòi triệu các quan tỉnh trở về
    Sự tình y ước cho ra bề đục trong
    Tin thì tin, dạ còn phòng
    Nam triều tể tướng nó đem lòng
    phục binh

    (VTTKĐ., 1371 - 1376)

    “Mời quan tể tướng xuống mau
    Để kịp xuống tàu về nước Lang Sa”

    (VTTKĐ., 1535 - 1536)

    Dẫu có chút nào đúng với ĐNTL.CB., tập 36, các trang 63 - 64, 220 - 222, 247, tuy tinh thần chủ chiến đã bị xuyên tạc phần lớn, thì những đoạn khác vẫn có quá nhiều sai lạc nghiêm trọng (sai lạc cả những chi tiết nhỏ lẫn những mảng hiện thực lịch sử lớn).

    Vè “Thất thủ kinh đô” không phân biệt được chủ chiến trong đấu tranh chính trị, ngoại giao và chủ chiến bằng vũ trang là một, “nhất dạng”, dẫn đến sự lệch lạc trong việc xây dựng hình tượng nhân vật theo tưởng tượng hư cấu chủ quan.

    Vè “Thất thủ kinh đô” đã xuyên tạc, li gián cả hai người lãnh đạo cao nhất của nhóm chủ chiến, làm phong trào Cần vương hoang mang, tan rã, khiến người yêu nước không nhận ra thủ đoạn tuyên truyền của Pháp và triều Đồng khánh, rất dễ bị mắc lừa!

    Vè “Thất thủ kinh đô” còn là cách biện minh cho Pháp, tả đạo, bọn tay sai và phe chủ “hòa”! (Xem các bài dụ của Từ Dũ – Nguyễn Nhược thị Bích viết thay – và của Đồng khánh về Tôn Thất Thuyết). Chả thế mà Le Bris đã dịch ra tiếng Pháp, đăng trên tạp chí Những người bạn cố đô Huế (BAVH.), số 1, năm 1942... (xem thêm tr. 235).

    Chúng tôi chưa nói đến vè “Thất thủ Thuận An”, một sáng tác được cho là của dân gian vì đã lưu truyền trong dân gian, với những sai lạc, những xuyên tạc nghiêm trọng của nó: “đánh tráo nhân vật hư cấu”, Nguyễn Trọng Hợp thành Nguyễn Văn Tường, đồng thời biện minh cho tên thực dân tả đạo Caspar! Tên cơ hội, tay sai Nguyễn Trọng Hợp thì Đại Nam thực lục, chính biên, tập 36, 37 và Đại Nam liệt truyện, tập 4, sđd., đã ghi quá rõ hành trạng của y cũng như ý thức làm tay sai cho Pháp của y...

    (*b) Có lẽ Trương Văn Đễ lại do Trương Quang Đản chạy “tội” (“tội” chủ chiến, thực thi nhiệm vụ cản hậu cho đoàn ngự giá sau khi kinh đô thất thủ!); và đặc biệt là nhờ uy vọng của cố đại thần Trương Đăng Quế, nên được phụ chép. Dẫu sao cũng chỉ được phụ chép mà thôi! – phụ chép vào dưới tiểu truyện của Trương Đăng Quế, ở mục hậu duệ –, vì Trương Đăng Đễ là con trai của cố mệnh lương thần họ Trương này. Xin xem lại chú thích số (11) cuối bài “Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau Cuộc Kinh đô quật khởi 05.7.1885”.

    (*c) Xem H. de Pirey, “Một thủ đô phù du: Tân Sở”, NNBCĐH. (1914), tập 1, sđd., tr. 224 - 234. Pirey trấn áp công luận bằng thủ đoạn XUYÊN TẠC CÔNG LUẬN, BỊA RA “Ý NGHĨ QUẦN CHÚNG” THEO Ý ĐỒ XÂM LƯỢC, mặc dù làm ra vẻ khách quan để tự bảo vệ lớp vỏ linh mục: “Tôi không dám bảo đảm những tin tức thu thập được là hoàn toàn xác thực [...] sau này kiểm tra lại hết và rũ bỏ những chi tiết nào nhận thấy là sai lệch” (sđd., tr. 225). Nhưng y lại dám bổ sung về Nguyễn Văn Tường: “... khi lịch sử phán quyết chung thẩm về con người này mà nước Pháp đày cho chết thì cũng nên xét tới những lời suy nghĩ về con người này của những người đã sống cùng và chịu khổ vì chính sách của ông” (sđd., tr. 234)!?! Đó là chính sách kháng chiến chống Pháp, Pirey xuyên tạc một cách tinh vi, thâm độc, và đầy thù hận đằng sau câu chữ! Buồn thay lòng dạ linh mục!


    Bài 28

    HỌA THƯƠNG BIỆN ĐẶNG LẠP
    NGUYỆT KHỔ HÀN NGUYÊN VẬN


    Hàn mưu tốt tuế dự thu sơ
    Duyệt thử phi gia khí vị thư
    Trà khả giải tinh tranh bộc lãn
    Tửu kham phá muộn nại tôn hư
    Tuyết sương lãnh trụy đa biên tái
    Phong hỏa khôi tàn kỉ tệ lư
    Vị báo đông phong tu biến tảo
    Vô giao (giáo) nhai cốc hoặc trì ư.


    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm

    28

    HỌA NGUYÊN VẦN BÀI THÁNG CHẠP RÉT
    BUỐT CỦA ÔNG THƯƠNG BIỆN HỌ ĐẶNG

    Cái lạnh định chấm dứt năm để chuẩn bị cho đầu thu
    Thổi qua đám cỏ lau bay bay không khí chưa dịu
    Trà có thể làm tỉnh người giành cơn lười của đầy tớ
    Rượu giải sầu được, nhưng chịu để chén không
    Tuyết sương lạnh lẽo rơi nhiều nơi biên ải
    Lửa chiến tranh thiêu rụi mấy xóm nghèo
    Bảo cho gió xuân nên đến sớm khắp nơi
    Chớ có chậm trễ ở những nơi hẻo lánh.

    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    dịch nghĩa

    28

    HỌA NGUYÊN VẦN BÀI “THÁNG CHẠP RÉT BUỐT” CỦA THƯƠNG BIỆN HỌ ĐẶNG (1)

    Cái lạnh định chấm dứt năm [cũ], chuẩn bị cho [tuổi] chớm thu
    Xét nhìn [đám] cỏ lau bay bay này [thấy luồng] không khí [lạnh] chưa dịu bớt
    Trà có thể giải tỏa cho tinh thần, [hăng hái] giành cái lười [của] người giúp việc (thầy tớ)
    Rượu (khả dĩ) đảm nhận [được việc làm] tan [nỗi] phiền muộn, đành [chịu nhịn với] chén [rượu] không!
    Tuyết sương lạnh lẽo rơi [tại] nhiều biên ải
    Gió lửa xám xịt [cháy] tàn [ở] bao nhà nghèo khó
    Là [dấu hiệu] báo gió hướng đông (gió xuân) nên sớm [đến] (sớm cần thiết cho khắp nơi)
    [Xin] đừng khiến [cho] rẻo cao, hang núi ở trong [những] sự mê loạn, chậm trễ, u ám!

    (1) Đặng Toán (Đặng Kim Toán), (ĐNTL.CB., tập 31, tr. 235, 287 và ĐNLT., tập 4, tr. 294).

    28

    “THÁNG CHẠP RÉT BUỐT”

    Họa thơ Đặng Toán

    Dứt năm, lạnh tính tự đầu thu (1)
    Bay rét lau này, ngó chửa thư
    Trà vốn tỉnh hồn, tranh tớ biếng
    Rượu thường tan khổ, chịu bình (2) khô!
    Băng sương trắng trĩu nhiều biên tuyết
    Khói lửa xám tàn mấy mái tro
    Là báo gió xuân nên sớm khắp
    Chớ gieo rẻo vắng nỗi mê mù!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Dịch thoát câu thứ nhất:

    Lạnh tính dứt năm, tuổi chớm thu
    Này lau bay rét, ngó chưa thư
    Tỉnh hồn, trà vốn tranh hầu biếng
    Tan khổ, rượu thường chịu chén khô!
    Trắng trĩu băng sương nhiều ải tuyết
    Xám tàn khói lửa mấy nhà tro
    Gió xuân báo sớm nên về khắp
    Rẻo vắng, đừng gieo nỗi mịt mù!


    (2) Nguyên văn là “chén” (“tôn”).



    Bài 29

    DU BỒ SƠN TỰ


    Vãn vãn xuân phong tiệm nhập hàn
    Lãng du hoãn bộ đáo Bồ San
    Danh thần vị đỗ sanh nhương nhật
    Thử địa duy dư Diệu Giác quan
    Thiền tụng thâm tiêu khai bát tọa
    Chung minh bán hưởng tịch thiên ban
    Tâm tồn bất sát Tào gia thệ
    Thùy tác thương sinh phổ tế đan.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    29

    ĐẾN CHƠI CHÙA BỒ SƠN

    Chiều xuống gió xuân chợt lạnh dần
    Lãng du nhẹ bước đến Bồ Sơn
    Danh thần, chưa thấy, ngày tao loạn
    Đây chỉ còn lưa “Diệu Giác quan”
    Tám cõi mở ra lời kệ tụng
    Ngàn ban tịch lặng tiếng chuông vang
    Lòng còn chẳng dứt “Tào gia thệ”
    Đâu giúp linh đơn cứu thứ dân?


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    29

    ĐẾN THĂM CHÙA BỒ SAN (1)

    Chiều muộn, gió xuân dần thấm [vào người, nghe] buốt lạnh
    Lang thang đi [thăm], chậm (nhẹ) bước, đến Bồ San
    Người bề tôi lừng tên tuổi, chưa [được] thấy, [trong tháng] ngày [thời thế] gây ra giặc giã
    Đất này chỉ còn cửa chùa Diệu Giác (2)
    [Tiếng] tụng [kinh] Phật sâu trầm (nhỏ tiếng) mở [ra] tám cõi (3)
    [Tiếng] chuông vang vọng lửng lơ, [khiến] lặng yên nghìn loài (4)
    Tâm hồn [đang] còn, chưa giết [được] lời thề của nhà họ Tào (5)
    Ai tạo nên [cõi] sống [dân] đen (nghèo khổ),
    [hỡi] thuốc cứu giúp rộng khắp
    (cho mọi nơi, mọi người, mọi thời)?

    (1) Bồ Sơn, thuộc tỉnh Bắc Ninh (ĐNNTC., tập 4, tr. 118).

    (2) Tên chùa, có nghĩa: sự giác ngộ linh diệu.

    (3) Tám cõi (bát tọa): còn gọi là “bát tòa”, một từ Phật học.

    (4) Nghìn loài (thiên ban): chữ “thiên ban” của nhà Phật, chỉ chung muôn vạn sinh linh trên trần gian này...

    (5) “Tào gia thệ” (lời thề của nhà họ Tào). Chúng tôi chưa tra cứu được điển tích này. Câu trên, cũng có thể dịch chữ “sát” là “chết”; “tâm” là “cái tâm” (lương tâm, thiện tâm): “Tâm còn, chưa chết lời thề của họ Tào ư?”.

    “Sát” còn có một âm nữa là “tát” (tan mất), [HVTĐ., sđd., tr. 325].

    Xin tạm dẫn điển tích này để thử tham khảo (có lẽ không khớp với tứ thơ): Tào lệnh nữ (con dâu tốt của nhà họ Tào) quyết thờ chồng, không tái giá. Vì bị cha mẹ ép lấy chồng lại, Tào lệnh nữ tự cắt tai để từ chối! Chú ép, cô cắt cả mũi mình! Tào lệnh nữ là vợ Tào Văn Thúc – cháu nội Tào Tháo. Theo cách diễn đạt của Bửu Kế, đó là thái độ, ý thức chính trị hơn là lòng thủy chung vợ chồng, lúc triều Ngụy Tào đã bị tiêu vong (TĐTNTN., sđd., tr. 567).

    Có lẽ, ẩn ý của tác giả nhằm chỉ đến lòng trung thành tới mức ngu trung với triều Lê trung hưng bù nhìn và chúa Trịnh nhiều đời hiếp chế (tương tự như Hán và Ngụy – Tào Tháo). Cho dù bi kịch hủy hoại thân thể của Tào lệnh nữ là hậu quả của chế độ gia trưởng phong kiến, vẫn thấy rõ lòng chung thủy trong quan hệ vợ chồng thật đáng quý, đáng nêu lên như một tấm gương sáng về liệt nữ, như ở mục “Nhân vật” của ĐNNTC.. Nhưng ở đây, cái lõi của điển tích lại là thái độ, ý thức chính trị ngu trung thật đáng trách. Tác giả muốn chấm dứt sự ngu trung ấy chứ không phải muốn làm vỡ tấm gương chung thủy trong tình nghĩa vợ chồng.

    Hẳn tác giả thừa hiểu điển tích Tào lệnh nữ cũng giống như Phạm Thái – Trương Quỳnh Như. Phải chăng cái oái oăm vừa giận vừa thương rất hiện thực thời bấy giờ đã phản ánh vào tâm hồn Nguyễn Văn Tường, tạo nên một tâm trạng mâu thuẫn đầy thao thức, khắc khoải, cái thao thức, khắc khoải của một nhà nho chiến sĩ rất Việt Nam? Do đó, bài thơ trên của Nguyễn Văn Tường đã đạt được độ sâu, tầm cao về giá trị hiện thực và nhân đạo (“Thùy tác thương sinh? Phổ tế đan!”). Tuy nhiên, chúng tôi vẫn e rằng điển tích ấy không phù hợp lắm với tứ thơ, văn cảnh toàn bài. Xin dè dặt ở điểm này.

    29

    ĐẾN THĂM CHÙA BỒ SAN (1)

    Chiều muộn gió xuân thấm lạnh dần
    Lang thang nhẹ bước đến Bồ San (1)
    Danh thần, chưa thấy, thời đầy giặc
    Tình xứ (2) chỉ còn Diệu Giác quan
    Lời kệ sâu thầm, bừng cõi Phật (3)
    Chuông chùa lửng vọng, lặng trần gian (3)
    Tâm còn, chẳng diệt thề Tào Ngụy
    Ai tạo dân đen? Trải thuốc Nhân! (4)


    (bản biên soạn)

    (1) Bồ Sơn (Bồ San). Ở đây, để theo vần toàn bài của nguyên tác.

    (2) Nguyên văn: “Thử địa” (đất này; đất như thế).

    (3) Dịch thoát hai khái niệm Phật học: “bát tòa (tọa)” , “thiên ban”.

    (4) Phải chăng, nên dịch sát nghĩa hai chữ “thương sinh” (kiếp / cõi dân đen)? Hay chỉ dịch thoát:

    “Thuốc linh ai cứu chốn lầm than?”
    “Thuốc linh? Ai tạo kiếp lầm than?”


    Tạm dịch, chưa diễn đạt hết ý của ba chữ “phổ tế đan”. Xin xem bản dịch nghĩa bài này. Chữ nhân (nhân đạo: lẽ đạo yêu thương) tương đương với hai chữ “từ bi” của Phật giáo.

    Các triết gia xếp Phật giáo và hệ thống tư tưởng của nhà Phật vào loại duy tâm chủ quan. Đó là một trường phái triếât học xem thế giới khách quan là phản ánh của thế giới nội tâm vốn do chủ quan con người tạo ra; ở tầm cụ thể với dạng tâm lí thường thấy, đại loại như câu Kiều: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”; ở tầm khái quát với sự chiêm nghiệm sâu xa theo quy luật nhân quả cùng cặp phạm trù “tất yếu – ngẫu nhiên”: khổ đau, hạnh phúc trên cõi đời đều do cái tâm con người (thể hiện thành tư tưởng, tình cảm, hành vi...) tạo nên; mặc dù vẫn thừa nhận khổ đau – sinh, lão, bệnh, tử; sát sanh ... – là hiện thực khách quan , độc lập với ý chí của con người; tạm hiểu giản đơn như thế. Phật giáo chủ trương cải thiện trần gian, gồm cả hiện thực với quy luật khách quan ấy, bằng sự nhận thức luật nhân quả và tu tâm, hành xử với trí huệ (trí tuệ sáng suốt), theo đạo từ bi, hỉ xả (nhân đạo, khoan hòa, buông bỏ những dục vọng...).



    Bài 30

    DỮ THỐNG ĐỐC ĐĂNG KÌ ĐÀI
    HỮU CẢM


    Viễn địa tân niên hệ lữ hoài
    Tướng tương hoãn bộ cưỡng đăng đài
    Sơn nghinh khuy kính tùy minh diệt
    Vân ủng nhàn song bán yểm khai
    Cố miện chinh [ … ] cao các mộng
    Bồi hồi kính cúc cố viên tài
    Thanh bình giao dã tri hà nhật
    Cộng chước kì anh tửu nhất bôi.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    30

    CÙNG THỐNG ĐỐC LÊN KÌ ĐÀI,
    CẢM XÚC

    Đất khách năm mới dễ cảm hoài
    Cùng nhau nhẹ bước gượng lên đài
    Gương soi, núi đón, tùy ẩn hiện
    Song kín, mây đưa, lỏng mở cài
    Ngoái lại [ … ? … ] mơ mộng hão
    Bồi hồi vườn cũ cúc vồng lay
    Thanh bình thôn xóm bao giờ nhỉ
    Cùng rót Kỳ Anh, chén rượu đầy.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    30

    CÙNG THỐNG ĐỐC (1) LÊN ĐÀI CỘT CỜ,
    [TỰ DƯNG] CÓ CẢM XÚC

    Đất xa xôi, năm mới gắn liền với nỗi buâng khuâng, thương nhớ của người đi xa
    Đỡ nhau nhẹ bước, gượng lên bệï đắp cao (đài)
    Núi đón chào, tấm gương chớp [như liếc mắt] tùy theo [chỗ] sáng, [chỗ] tối
    Mây ôm cửa sổ nhàn nhã, nửa đóng nửa mở
    Nhìn ngoảnh [lại], [nhớ] giấc mộng [về] chiếc vồ nện đất xây chiềng làng (2) [trên] lầu (gác) cao
    [Lòng cứ] dùng dằng, [thương] sự trồng tỉa luống cúc [ở] vườn cũ (3)
    Thanh bình [cho] vùng ngoại ô, thôn quê, biết ngày nào [như thế nhỉ]?
    Cùng rót mời cái tinh hoa (4) [của] tuổi sáu mươi một chén rượu.

    (1) Hoàng Tá Viêm (ĐNTL.CB., tập 32, tr. 94...).

    (2) Bản nguyên tác chữ Hán có hai chữ này không “đọc” được (chinh chùy?). Hẳn chữ này vốn là từ tiếng Việt (“chiềng làng, chiềng chạ”) được tác giả phiên âm ra tiếng Hán. Đây là một chữ Nôm ít được dùng, bởi ngay chữ “chiềng” cũng là từ tiếng Việt cổ. Có lẽ tác giả nhớ thời xây dựng biên ải. Chúng tôi tạm đoán, dựa vào văn cảnh toàn bài cùng bài thơ 66, “Mừng Trần Trọng Cung thọ bảy mươi”: “chiềng chuỳ”, đó là “cái vồ nện đất (để đắp đất) của chiềng làng”. Xin xem thêm chú thích (3), bản dịch nghĩa bài 66.

    (3) Có lẽ nhà thơ thương nhớ đến thời dạy học ở quê nhà (lúc bị cấm thi) hay ở Mộ Đức, Quảng Ngãi (lúc được bổ làm huấn đạo, sau khi đỗ cử nhân): tài (trồng cây) trong từ “tài bồi” (bồi: vun xới); “thụ mộc” – “thụ nhân” (trồng người).
    “Cố viên tài”: cây cối (“tài”) ở vườn cũ. Hiểu một cách linh hoạt: vườn ươm trồng nhân tài.

    (4) Chúng tôi liên tưởng đến bài “Vịnh họa thủy tiên trong quân lữ” của Hoàng Tá Viêm và bài họa lại của ông. Theo ông, hoa thủy tiên là biểu tượng “đẹp người, tốt nết, cao tài” (dị anh: tài năng xuất chúng). Có điều, ở bài thơ này này, “kì anh” cùng những phẩm chất quý báu của nó, không phải là hoa, mà là rượu – rượu kì anh, trác tuyệt! – của tuổi sáu mươi (“kì”).

    30

    CÙNG THỐNG ĐỐC HOÀNG TÁ VIÊM
    LÊN ĐÀI CỜ, CẢM XÚC

    Năm mới đất xa lính cảm hoài
    Đỡ nhau nhẹ bước gượng lên đài
    Gương loe núi đón, tùy ngời tắt
    Song rỗi mây ôm, nửa mở cài
    Ngoái thuở vồ chiềng, nâng gác mộng
    Thương thời cúc luống, ươm vườn tài
    Thanh bình thôn xóm ngày nào nhỉ
    Cùng rót “Kì Anh” (1) một chén say!


    (bản biên soạn)

    (1) “Kì Anh”, ở đây dùng như tên rượu với nghĩa: tinh hoa tuổi sáu mươi, cái tinh hoa kết lại sau sáu mươi năm học tập, rèn luyện, chiến đấu, cống hiến...


    Bài 31

    HỌA THỐNG ĐỐC HOÀNG ĐẠI NHÂN
    PHÚ BÌNH ĐẠO TRUNG NGUYÊN VẬN


    Dã sắc sơn nhan nhất dạng hồng
    Du nhiên vân dịch biến thiên dung
    Vị tương giáp tẩy lưu hà thủy
    Dục trợ quân thanh khiếu lãnh tùng
    Đường tí phân nhương do thoán bắc
    Hồ cầu nhu trệ vị chi đông
    Thùy giao xuất hiệp vô dư cữu
    Hoặc sử yêu ma cảm thiết hùng.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    31

    HỌA NGUYÊN VẦN
    BÀI “GIỮA ĐƯỜNG PHÚ BÌNH”
    CỦA THỐNG ĐỐC HOÀNG ĐẠI NHÂN

    Đồng núi sắc màu một dáng hồng
    Mây ùn mưa tỏa khắp tầng không
    Sao đem giáp rửa dòng sông chảy
    Muốn giúp quân tinh gió ngọn tùng
    Bọ ngựa phân vân còn trốn bắc
    Áo cừu đẫm ướt chửa qua đông
    Ai cho rút kiếm ta không lỗi
    Khiến bé mọn kia xưng trộm hùng.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    31

    HỌA NGUYÊN VẦN BÀI “GIỮA ĐƯỜNG
    PHÚ BÌNH” (1) CỦA THỐNG ĐỐC
    HOÀNG ĐẠI NHÂN (2)

    Sắc màu đồng ruộng, nét mặt núi non [cùng] một dáng hồng
    Bỗng dưng mây di chuyển [đến, làm] biến đổi dung mạo [của bầu] trời
    Sao đem áo giáp giặt tẩy [trong] nước sông [đang] chảy
    Muốn giúp quân lính [thêm] thanh thế [như] những cây tùng [trên] đỉnh núi [đứng] hát [nghiêm trang]
    Cánh tay [loài] bọ ngựa lộn xộn, quấy rối còn giấu (trốn) [ở phía] bắc
    Tấm áo da chồn cáo mềm xàu, ướt đẫm chưa qua [được trong] mùa đông
    Ai cho [chúng] rút [kiếm ra] khỏi vỏ (hoặc: sổ cũi), không phải lỗi chúng ta
    Sự bất định khiến [lũ] yêu ma (lũ nhỏ mọn) dám trộm [tiếng],
    [xưng] hùng!

    (1) Phú Bình, Thái Nguyên (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 361, 368).

    (2) Hoàng Tá Viêm. Về chữ “đại nhân” (nghĩa đen: người lớn lao), xin xem chú thích về chữ “công” trong “Nguyễn công” – chú thích (1) bản dịch thơ, bài số 7.

    31

    “GIỮA ĐƯỜNG PHÚ BÌNH”

    Họa thơ Hoàng Tá Viêm

    Sắc ruộng màu non: một dáng hồng
    Mây ùn mưa tỏa, ảo tầng không
    Sao đem giáp rửa, trôi dòng nước
    Muốn giúp quân nghiêm, trỗi đỉnh tùng
    Tay bọ cướp tràn còn trốn bắc
    Áo chồn ướt đẫm chửa qua đông
    Ai cho rút kiếm ta không lỗi
    Rối lệnh, trộm liều, quái mạo hùng! (1)


    (bản biên soạn)

    (1) Rối lệnh, quái gan, xưng trộm hùng!






    Bài 32

    NGẪU THÀNH,
    TRÌNH THỊ SƯ NGUYỄN


    Sơn đa hồ thử, hải đa kình
    Không sử ngư tiều bạc mộ kinh
    Điền hải khủng thương ngư miết quật
    Tắc sơn nan tận điểu dương trình
    Quần ngôn doanh phát mưu hà định
    Sổ nẫm lao nhương hoạn vị bình
    Nhược vấn toàn bàn quy kết xứ
    Phủ như tập triệu chiến Hàn Bành.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    32

    CHỢT LÀM,
    TRÌNH QUAN THỊ SƯ HỌ NGUYỄN

    Núi nhiều cáo chuột, biển nhiều kình
    Luống khiến ngư tiều chiều xuống kinh
    Lấp biển, sợ chôn hang trạnh cá
    Vùi non, khó chặn nẻo dê chim
    Lời gièm nổi dậy mưu sao định
    Năm tháng lao đao hận chẳng lành
    Thử hỏi toàn bàn nơi tụ họp
    Dụ như Cung Triệu: đánh Hàn Bành.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    BẤT CHỢT LÀM XONG, BÀY TỎ
    [CÙNG] QUAN THỊ SƯ HỌ NGUYỄN (1)

    Núi nhiều cáo chuột, biển lắm cá kình [hung dữ]
    Khi không [lại] khiến [cho] người hái củi, dân đánh cá kinh hãi [trong mỗi] buổi chiều [lúc nắng trời đã] nhợt nhạt
    Lấp biển, sợ chôn hang rùa, cá
    Chặn núi, khó tiệt nẻo [đi lối về của] dê, chim
    Lời nói [của] đám đông, bới móc, dựng lên đầy khắp, [như vậy] mưu lược làm sao định [ra được]
    Nhiều năm mệt nhọc trừ dẹp, tai họa [giặc phỉ vẫn] chưa bình định [xong]
    Thử hỏi toàn bàn [họp về] nơi quy tập [lại bọn phỉ ấy]
    [Nên] vỗ yên (phủ dụ) [bọn chúng] như y theo cách xưa vời gọi, [do] sợ hãi Hàn, Bành (2) sao? (3)

    (1) Nguyễn Uy (Oai) (ĐNTL.CB., tập 32, tr. 248).
    (2) Theo TQSL., sđd., tr. 66 - 67: Hàn Tín đã thu phục được Bành Việt, tướng của Hạng Tịch. Hàn Tín, Bành Việt, hai danh tướng của Hán vương, đã từng chiếm đánh nước Triệu trong nửa ngày. “Chiến” còn có nghĩa: sợ.
    (3) Hẳn đây là một câu hỏi nêu ra nhằm tranh luận với quan điểm thiên về vỗ yên (cấp đất, cấp tiền cho bọn phỉ – Thái Bình Thiên Quốc biến tướng –, cho chúng ở lại nước ta để sinh sống). Trong thực tế, chúng lại trá hàng rồi mưu phản, như vụ đánh úp thành Lạng Sơn, lúc quân binh của thành do Ông Ích Khiêm rút đi gần hết (để tiễu phỉ ở vùng khác)..., (xem ĐNTL.CB., sđd., tập 32, tr. 61 - 62). Cũng trong thực tế, giặc Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, mặc dù có gây họa nhiều cho dân ta (cướp bóc, tàn sát), nhưng cũng được Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết vỗ yên và sử dụng đánh Pháp thành công, nhất là các trường hợp như quân ta khó lòng trực tiếp ra tay vì bị hòa ước bó buộc hoặc ngại làm vỡ không khí nghị hòa (giết Françis Garnier, 1873; Henry Rivière, 1882). Vì hai mặt tích cực và tiêu cực, xét về tác dụng trong việc vỗ yên, sử dụng “giặc Cờ”, nên bấy giờ vấn đề được bàn cãi gay gắt trong các cuộc họp của tướng sĩ (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 317, 362; tập 32, sđd., tr. 99...).

    32

    BẤT CHỢT LÀM XONG,
    BÀY TỎ CÙNG QUAN THỊ SƯ
    NGUYỄN UY (NGUYỄN OAI)

    Núi nhiều cáo chuột, biển đầy kình
    Bạc mặt chiều hôm, chài, Thượng kinh
    Chẹn biển, e chết hang cá nở (1)
    Ngăn non, khó tiệt nẻo diều sinh (1)
    Xấu gièm, lắm tiếng, mưu sao định
    Khổ dẹp, nhiều năm, nạn chửa bình
    Thử hỏi toàn bàn nơi tụ giặc?
    Vỗ mời như Triệu, đánh Hàn binh (2)?!


    (bản biên soạn)

    (1) Dịch thoát. Nguyên văn có nghĩa: “hang rùa cá”, “nẻo dê chim”. Diều: diều hâu (biểu tượng của sự hiếu chiến, sống bằng xác người).

    (2) Tạm lược chữ “Bành” (Bành Việt) ; như thế vẫn đủ nghĩa, lại giữ được nhạc điệu của câu thơ. Hoặc tạm dịch:

    “Vỗ mời như cổ, đua Hàn Bành?”

    bởi chữ “chiến” còn có nghĩa là “đua nhau hơn thua”, trong một phe. Xem chú thích (2) bản dịch nghĩa bài này.



    Bài 33

    DẠ VĂN CA CỔ
    TRÌNH THỊ SƯ NGUYỄN


    Đăng hạ phi thư tiệm giác hàn
    Hồi tư sự thế dạ man man
    Như kim ban mấn nhân tương lão
    Hà xứ tân thanh khách diệc nhàn
    Điêu đẩu chinh phu mê chướng vụ
    Ngọc hoa thương nữ ỷ lan can
    Trung khúc nhược giải bàng nhân ý
    Xả khước tì bà xướng nhập quan.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    33

    ĐÊM NGHE ĐÁNH TRỐNG CA,
    TRÌNH QUAN THỊ SƯ HỌ NGUYỄN

    Giở sách dưới đèn thấy lạnh lùng
    Chuyện đời gẫm lại, đêm mung lung
    Tóc phai nay độ ưu tư – lão
    Trỗi nhạc nơi nào, nhàn hạ – ngông!
    Lính tráng chinh phu mờ chướng khí
    Xinh tươi ca nữ dựa lan can
    Lời ca nếu giải lòng ngoài cuộc
    Bỏ khúc “Tì bà” hát “Vượt ngàn”.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    ĐÊM NGHE ĐÁNH TRỐNG HÁT XƯỚNG,
    TỎ BÀY VỚI QUAN THỊ SƯ NGUYỄN (1)

    Dưới đèn giở sách, dần dần cảm thấy lạnh
    Ngẫm lại [quãng thời gian] sự đời biến loạn (giặc giã), đêm xa thẳm, mênh mông
    Như thể (chừng như) bây giờ, tóc [đã] hoa râm, người chưa nhưng cũng sắp già
    Nơi nào tiếng [hát] tươi mới, khách khứa cũng [hưởng] nhàn!
    Đồ đong gạo [đong lương cho lính] điêu trá (hay nậm rượu độc ác) (2) [cùng] người lính trận mê mờ trong sương độc, bệnh sốt rét
    Cô gái bán [phấn] buôn [hương] (3) [với (hoặc xinh đẹp
    như)] đóa hoa [được làm bằng] ngọc,
    tựa vào bao lơn
    Khúc hát ngay thẳng giá như cởi bỏ được ý nghĩ [của] người bàng quan [với dân, với nước]
    (hoặc: người bên cạnh; người ngoài cuộc) (4)
    Xin tha thứ [cho chúng và] hãy [cùng nhau] từ bỏ cái
    đàn tì bà (4), hát lên [khúc hát] “Vào cửa ải” (5).

    (1) Nguyễn Uy (Oai), (ĐNTL.CB., tập 32, tr. 248).

    (2) Theo mặt chữ của nguyên tác chép tay, “điêu đẩu” có hai nghĩa (hai loại đồ dùng nấu ăn của lính, đêm dùng để đánh cầm canh; đồ đong gạo điêu trá), [Thiều Chửu, HVTĐ., sđd., tr. 50].

    (3) Nguyên văn: “thương nữ” (người con gái làm nghề thương mãi [buôn gạo, bán rượu...]). “Ngọc hoa” còn có nghĩa là gái đĩ xinh đẹp.

    (4) Vương Tường (Chiêu Quân), đời vua Hán Nguyên Đế (Trung Hoa), bị cống nộp cho “rợ” Thuyền Vu; khi ra cửa ải Vân Quan, Chiêu Quân ngồi trên lưng ngựa gảy đàn tì bà rất ai oán (TĐTNTN., sđd., tr. 604 - 605).

    (5) Hơi dè dặt, chúng tôi liên tưởng đến bài Tì bà hành (của Bạch Cư Dị) do Phan Huy Vịnh (thượng thư Bộ Hình, cùng thời) dịch.

    33

    ĐÊM NGHE ĐÁNH TRỐNG
    HÁT XƯỚNG,
    TỎ BÀY VỚI THỊ SƯ NGUYỄN UY
    (NGUYỄN OAI)

    Giở sách dưới đèn lạnh thấm sang
    Nhiễu nhương, suy ngẫm, đêm mang mang
    Như nay tóc nhuốm, người chừng lão
    Đâu chốn nhạc tươi, khách mãi nhàn
    Vạc kẻng chinh phu mê chướng khí
    Ngọc hoa thương nữ dựa lan can
    Lời ngay nếu cứu lòng hờ hững
    Buông bỏ Tì bà, hát Vượt ngàn! (2)


    (bản biên soạn)

    (1) Nếu hiểu “điêu + đẩu” là cái thưng, cái đấu xảo trá (để đối chỉnh với danh từ ghép đẳng lập “ngọc + hoa” vốn có nghĩa bóng là gái đĩ, xin tạm dịch toàn câu (sát nghĩa):

    “Thưng đểu chinh phu mờ sốt rét
    Hoa ngời thương nữ loá lan can”.


    (2) Đây là một bài thơ nghĩ chuyện đời thời biến loạn! Toàn bài thơ nói về quan niệm sống; tiếng trống, giọng ca, người lính, kĩ nữ chỉ là cái cớ trực tiếp. Đừng khiêm tốn thì phải nói là: bài thơ thể hiện triết lí sống, lẽ sống tích cực, đầy trách nhiệm trong hoàn cảnh Đất nước bị ngoại xâm và nội loạn (*). Không thể không liên tưởng đến bài “Bạc Tần Hoài” của Đỗ Mục, đời Đường (Trung Hoa):

    Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa
    Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia
    Thương nữ bất tri vong quốc hận
    Cách giang do xướng “Hậu đình hoa”!

    Nước lồng khói toả, cát trăng pha
    Thuyền đỗ sông Hoài cạnh tửu gia
    Con hát biết chi hờn mất nước
    Cách sông còn hát “Hậu đình hoa”!


    KHƯƠNG HỮU DỤNG
    dịch thơ
    ("Thơ Đường", tập 1,
    sđd., tr. 263).

    “Hậu đình hoa” là “một khúc tình ca của Trần Hậu Chuá” (chú thích, sđd.)!

    Một quan niệm về mối quan hệ giữa văn chương với hoàn cảnh Đất nước rất cổ nhưng lại rất mới.


    Cước chú của bài thơ số 33, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*) Xem bản tấu của Nguyễn Văn Tường đệ trình vua Tự Đức về việc bố trí quan chức (tướng sĩ...) và về đức liêm khiết (ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 31 - 32).



    Bài 34

    KIÙ PHỎNG
    NGUYÊN CAO NIẾT NGUYỄN


    Tu mi tài bán bạch
    Kiếm bút khởi toàn phao
    Giám biệt thùy Tiêu nhãn
    Hùng phi thị Tín hào
    Bất tham Tần hóa bảo
    Vị tiễn Hán bồng cao
    Nhiễu nhiễu phương đa cố
    Vô vi vật hiệu Tào.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    34

    GỞI THĂM NGUYÊN ÁN SÁT
    CAO BẰNG HỌ NGUYỄN

    Tóc mày vừa bạc nửa
    Kiếm bút há vứt đi
    Ai mắt Tiêu Hà xét?
    Hàn Tín hào sảng kia!
    Chẳng ham đồ Tần quý
    Cỏ Hán phải cắt lì
    Nhiễu nhương nhiều biến cố
    Chớ Tào Tham vô vi.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    34

    GỬI THĂM NGUYÊN ÁN SÁT CAO BẰNG
    HỌ NGUYỄN (1)

    Mày râu vừa mới bạc một nửa
    Kiếm, bút chẳng lẽ (há) vứt hết cả [đi]?
    Ai [có đôi] mắt Tiêu (2) soi xét?
    Ấy [là cái] tài xuất chúng [của] Tín (3) (: phát dương chí khí mạnh mẽ) [ư]?
    Không tham [trước] đồ vật, tiền tệ (hay ấn tín [phong cho]) [của nhà] Tần (4)
    Cùng cắt cho đều cỏ bồng (thường dùng làm mũi tên
    cho cung nỏ), cỏ cao (để chữa bệnh) [của nhà] Hán
    Nhiễu nhương [ở] phương [trời] lắm biến cố (4)
    [Hãy] vô vi (5) [bạn nhé!], chớ bắt chước Tào (6)!

    (1) Nguyễn [Quang] Quýnh ở ĐNTL.CB., tập 28, sđd., tr. 73; ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 86; QTHKL., sđd., (số thứ tự 728), tr.178; chứ không phải là Nguyễn Quýnh anh em của Nguyễn Thuật (tập 37, sđd., tr. 142).

    (2) Tiêu Hà: mưu thần của Lưu Bang (Hán Cao Tổ).

    (3) Hàn Tín: tướng giỏi của Lưu Bang. Lúc còn nghèo khổ, chịu ăn cơm hẩm của người đàn bà làm nghề giặt rửa, chịu lòn trôn người khác giữa chợ một cách nhục nhã để nuôi chí lớn. Về sau, thành danh tướng của nhà Hán. Nhưng danh đã thành mà thân không chịu thoái về, nên bị Lưu Bang (vợ là Lữ Hậu) giết, bởi sợ Hàn Tín cướp ngôi. Tấm gương ẩn nhẫn nuôi chí và bài học về bi kịch công thần!

    (4) Khuôn dấu (ấn tín) và hàng hóa, mũi tên của cung nỏ và thuốc thang, đó là bốn biểu tượng của quyền lực (kể cả quyền lực của bọn làm tay sai cho ngoại bang), của giàu có (dù nô lệ), của ý chí và sức mạnh chiến đấu, của sự cứu chữa mọi vết thương, căn bệnh. Chiến tranh mặc dù chính nghĩa vẫn gây ra nhiều hi sinh, đau đớn. Do đó, phải có tài năng, thuốc thang của y tế, của nhân đạo.

    Gửi thư bằng thơ cho bạn, Nguyễn Văn Tường đã củng cố cho nhau một thái độ chính trị, một chọn lựa trước vận mệnh của nhân dân và Tổ quốc đang bị thách thức bởi thực dân Pháp và kẻ thù nhẵn mặt – bọn vua chúa Tàu.

    (5) “Vô vi: bất nhi bất vi” (Lão Tử). Hãy làm tất cả vì đời nhưng xem như chẳng làm gì, thậm chí đừng lưu danh (vô danh), đừng kể công lao (vô công)... “Vô vi”, ngược với “hữu vi”, là một chủ trương chính trị dùng đạo đức, học thuật để giáo hóa con người, không dùng bạo lực và hình pháp.

    (6) Tào Tháo, cũng xem như là kẻ đã cướp ngôi nhà Hán, lập nên nhà Ngụy, mặc dù đến đời con Tào Tháo là Tào Phi mới chính thức xưng là Ngụy đế. Tào Tháo còn là một hình tượng văn học bị bóp méo theo quan điểm phù Hán, hoài Hán của tác giả tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), mặc dù trong thực tế lịch sử Tào Tháo là một thi sĩ, một nhà chính trị không tệ hại như thế. Ở đây, Nguyễn Văn Tường muốn phê phán sự cưỡng ép vua Hán, chuẩn bị cho Tào Phi cướp ngôi hẳn, về sau.

    Tuy nhiên, thấy rõ là suốt bài thơ, Nguyễn Văn Tường đều dùng các điển tích Bắc sử (sử Trung Hoa) thời cuối Tần đầu Tiền Hán (khoảng năm 202 - 215 [?] trước công nguyên Thiên Chúa giáo). Vì vậy, Tào được đề cập đến hẳn là Tào Tham. “Tiêu quy, Tào tùy”: Tiêu Hà quy định nên phép tắc nhà Hán trước, Tào Tham kế nhiệm, tuân theo sau (TĐHV., tập hạ, sđd., tr. 277). Cả Tiêu Hà lẫn Tào Tham đều nối nhau làm tướng quốc (TQSL., sđd., tr. 69).

    Dù với điển tích là Tào Tháo hoặc Tào Tham, thì ý tưởng “công thành thân thoái” hoặc “vô vi” (đại ẩn tại triều trung...) [xem chú thích (5) trước chú thích này] vẫn là ý tưởng kết đọng cuối bài thơ; hoặc giả, với ý không nên nối tiếp đường lối hiện hành do Trần Tiễn Thành lũng đoạn...

    Phải chăng, “vô vi bất nhi bất vi” là một cách thoát khỏi sự bế tắc của tư tưởng chủ chiến trước sự thắng thế của khuynh hướng chủ “hòa”? Nghĩa là vẫn hành động theo chủ trương chủ chiến một cách bí mật! [Xem bài 38, “Bệnh trung kí phỏng đồng chí”]...

    Ở đây, xin ghi cả Tào Tháo lẫn Tào Tham cho rộng đường tra cứu thêm và rộng đường suy ngẫm về tứ thơ. Xin xem câu kết bản dịch thơ bài này của Trần Đại Vinh.

    34

    GỬI THĂM NGUYÊN ÁN SÁT
    CAO BẰNG NGUYỄN QUÝNH

    Mày râu vừa bạc nửa
    Kiếm bút há quăng đi!
    Ai mắt Tiêu soi lẽ
    Kìa tài Tín, chói uy!
    Dấu, hàng Tần, chẳng hám
    Tên, thuốc Hán, đều chi (1)
    Rối nhiễu nơi tao loạn
    Học gì Tào vô vi!


    (bản biên soạn)

    Chùm thơ hai bài 35. 36

    QUÂN TRUNG THUẬT HOÀI


    35: BÀI A

    Nhất biệt tinh chu ngũ
    Tương tư cửu khúc trường
    Tái phong lai kính trúc
    Dạ nguyệt thướng cao lương
    Sầu bất li cô tái
    Mộng thường đáo cố hương
    Phong hầu thùy tự ngộ
    Định viễn mấn thành sương.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    35. 36

    TRONG QUÂN TỎ LÒNG

    35: BÀI A

    Một đi năm năm tròn
    Nhớ đau chín khúc ruột
    Gió ải lay xanh trúc
    Trăng đêm bước cầu son (1)
    Sầu chẳng rời ải vắng
    Mộng thường lại cố hương (1)
    Phong hầu ai lạc lối
    Định Viễn tóc pha sương (2).


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    (1) Tác giả nhớ về Huế, Quảng Trị ([?] – nbs.). Đó là hai hình ảnh của hoài niệm, hồi tưởng, tiểu đối và đối chỉnh với hai hình ảnh của hiện tại mà tác giả đang sống, chiến đấu tiễu phỉ (ở hai câu trên của hai câu này).

    (2) Định Viễn (sử Trung Hoa): mĩ hiệu của Ban Siêu, có nghĩa là bình định được vùng đất biên viễn. Đó là một người được phong đến tước hầu; trải qua ba mươi năm chinh chiến ở biên giới, khi trở về đầu đã bạc trắng.

    35. 36

    TẠI NƠI BẢN DOANH CỦA CÁC TƯỚNG SĨ,
    BÀY TỎ NỖI LÒNG

    35: BÀI A

    Một [lần] ra đi [vậy mà đã] tròn năm chu kì của vì sao (5 năm)!
    Nhớ nhau, [xót đau như] chín khúc ruột quằn
    Gió [biên] ải đến [với những cành] trúc [ven] lối [đi] (1)
    Trăng đêm [khuya như bước] lên cầu cao
    [Nỗi] sầu không [chịu] rời [biên] ải cô quạnh
    [Giấc] mộng thường về lại quê cũ
    [Nhận] phong chức quan, hàm tước, ai [đã trót] nhầm lỡ
    [Sự] quyết định [từ] phương xa (2), [khiến] mái tóc hóa sương [trắng]! (3)

    (1) “Kính trúc” cũng có thể dịch là “trúc thẳng”. “Kính trúc” đối với “cao lương”, rất chỉnh, về từ loại, và cấu tạo ngữ (ngữ danh từ = tính từ + danh từ). [Xem: HVTĐ, sđd., tr. 192].

    (2) Lệnh từ kinh đô ban ra Bắc (điều động Nguyễn Văn Tường vào Huế nhận lệnh sung vào phái bộ Lê Tuấn, 1873 - 1874); hoặc: xong việc nơi biên ải (nhưng lúc này vẫn chưa diệt xong giặc Cờ, F. Garnier và Puginier lại tăng cường mua chuộc, quấy phá!).

    (3) Xin lưu ý câu kết của bài thơ. Đó là một câu rất tâm trạng của tác giả.

    35. 36

    TẠI NƠI BẢN DOANH CỦA CÁC
    TƯỚNG SĨ, BÀY TỎ NỖI LÒNG

    35: BÀI A

    Một đi, năm Tết trọn
    Quằn chín khúc u buồn
    Gió núi lay đường trúc
    Trăng khuya lên đỉnh rường
    Sầu không rời ải vắng
    Mộng mãi về quê thương
    Quan tước, ai nhầm chọn
    Định Viễn tóc hóa sương!


    (bản biên soạn 1/35)

    35: BÀI A

    TẠI NƠI BẢN DOANH CỦA CÁC
    TƯỚNG SĨ, BÀY TỎ NỖI LÒNG

    Một giã nhà, năm năm trọn!
    Nhớ nhau, chín khúc buồn thương
    Gió rừng lay tâm thẳng trúc
    Trăng muộn lên cầu cao rường
    Sầu úa chẳng rời hoang ải
    Mộng hùng (1) thường về cố hương
    Nẻo quan, tự ai nhầm chọn
    Yên ải, tóc hóa thành sương!

    (bản biên soạn 2/35)

    (1) Giấc mộng hào hùng (theo nghĩa tiếng Việt).

    Chùm thơ hai bài 35. 36

    QUÂN TRUNG THUẬT HOÀI


    36: BÀI B

    Độc túc lũng đầu phùng lậu vĩnh
    Khước vô bôi tửu phá sầu trường
    Thâm lâm tự thị đa kinh cức
    Đại địa hà tằng phạp đống lương
    Sổ nẫm dĩ qua chư tạp ải
    Nhất sinh khả tiếu kỉ bồng tang
    Gian nan thùy đạo chinh phu ý
    Ca lạo hoàn thi tuyết hựu dương.


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    35. 36

    BÀY TỎ NỖI NIỀM ẤP Ủ TRONG LÒNG
    [Ở] NƠI TƯỚNG SĨ BÀN KẾ (1)

    36: BÀI B

    Một mình trú lại [vào ban đêm ở] đầu gò đất giữa đồng
    (2), gặp giờ khắc [kéo dài ngỡ như đêm] mãi mãi
    Hóa ra, không [có] chén rượu [để] phá [tan] nỗi lòng buồn bã
    Rừng sâu, tự [cho là] phải [với] nhiều gai góc (: gian khổ, giặc phỉ)
    Đất rộng (: lớn), sao từng trải qua [vẫn] thiếu rường cột (: người hiền tài)
    Nhiều năm, đã đi qua lắm cửa ải, nơi thu thuế cửa khẩu
    Một đời có thể cười, với bao cung tên (: chí làm trai) (3)
    Gian khó, ai nói [về lẽ đạo cứu nước, giúp dân như] ý nghĩ [của] người [vào] trận mạc
    Hát ca, lấy lời để động viên, an ủi (4) [rồi] trở về [với] thơ, [cứ] tuyết lại dương liễu (5)!

    (1) “Quân trung”: giữa việc binh; giữa nơi đóng quân.

    (2) “Lũng”, còn có nghĩa là cái mộ (mồ mả).

    (3) “Bồng tang” (tang bồng), lược từ thành ngữ “tang hồ, bồng thỉ” (cung gỗ dâu, tên cỏ bồng). Tục xưa, sinh được con trai, người ta làm lễ với “tang hồ, bồng thỉ”, bắn sáu phát (bốn hướng, đất và trời), với ước vọng tỏ chí làm trai cho con.

    (4) “Ca lạo” cũng có thể đọc là “ca lao” (hát về gian khổ = ngợi ca gian khổ trong sứ mệnh đánh giặc cứu nước).

    (5) “Tuyết”, tượng trưng cho sự lạnh lẽo (đoan trang, nghiêm túc) và trắng trong (trinh trắng). “Dương” (cây dương liễu, liễu rủ), tượng trưng cho lông mày thanh tú, xanh mượt, chỉ người con gái đẹp. (Xem TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 324; tập thượng, tr. 227). Tuy nhiên, “tuyết” và “dương [liễu]” chắc hẳn chỉ là biểu trưng cho sự trong sạch lẫm liệt trong tư cách và là sức sống chịu đựng được khô khốc giữa những trường sa, trường sa trắng xóa, trắng bỏng gió lửa, trắng buốt mưa bão của quê nhà Quảng Trị, nơi sinh trưởng của nhà thơ chiến sĩ Nguyễn Văn Tường.

    Cũng có thể tác giả nhắc đến điển tích “xuân dương, bạch tuyết”, ý nói: bài hát dân dã, thơ ca mộc mạc.


    35. 36

    BÀY TỎ NỖI NIỀM ẤP Ủ TRONG
    LÒNG Ở NƠI TƯỚNG SĨ BÀN KẾ (1)

    36: BÀI B

    Khuya lẻ, đầu gò, nhằm khắc thẳm (1)
    Hóa không chén rượu vỡ buồn thương
    Rừng sâu rằng phải nhiều gai góc!
    Đất rộng sao từng thiếu cột rường?
    Lắm hạ đã qua bao ải thuế
    Một đời cười được mấy biên cương?
    Gian nan ai tỏ lòng người lính
    Hát khổ, lại thơ tuyết với dương
    .

    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Có thể dịch:

    “Khuya lẻ, đầu gò, canh thẳm sương”

    Nhưng tác giả buông thanh trắc cuối câu thứ nhất, nhằm diễn đạt sự buồn bực, trăn trở, không dễ đi vào giấc ngủ của mình. Lúc này, thời điểm với hiện thực được phản ánh trong bài thơ, là lúc tác giả đang lỡ độ đường.




    Bài 37

    THẤT ĐỘ XƯƠNG GIANG


    Ngũ niên thất độ thọ Xương Giang
    Lai vãng na kham trở thả trường
    Tế hiểm phi vô chu tiếp lợi
    Chấp đà vị định lỗ phàm mang
    Thao thao thế sự khan như thủy
    Kiển kiển (1) thần tâm kết tự sương
    Bắc cố Triều đình tiêu hãn thậm
    Lô Thao hà thượng nhẫn cao tường.


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    (1) Tắc (tái)? Xin lưu ý: “thao thao” đối rất chỉnh với “kiển kiển” (từ lấp láy toàn phần).

    37

    BẢY LẦN VƯỢT SÔNG XƯƠNG

    Năm năm bảy lượt vượt qua, rót rượu mừng thọ với sông Xương
    Đi qua, đi lại sao đành cam chịu [trước] sự hiểm trở, [khiến quân] phải nghỉ chân lâu (chậm trễ)
    Cứu khỏi sự hiểm nghèo, [mọi người] đều bị lỗi [là] không thuyền chèo tiện lợi (2) [chiến đấu tốt, chuyển quân nhanh]
    Cầm bánh lái chưa định được [phương hướng, luồng nước, sách lược], [khiến] khiên (: mộc),
    buồm bận rộn [không ngớt]
    Cái cuồn cuộn [của] việc đời, trông như nước [cuốn]
    Sự ngập ngừng, ách tắc, khó nói [khiến] lòng dạ kẻ bề tôi kết đọng lại như sương [trên râu tóc]
    Trông ngóng (3) Bắc, Triều đình [bàn tính] thâu đêm suốt sáng (3)
    [Quân] trên [sông] Lô, [sông] Thao (4), nỡ đùa bỡn, lượn lờ ư?

    (1) Sông Xương (Xương Giang) thuộc tỉnh Bắc Ninh.

    (2) Xem ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 331 - 332.

    (3) Kẻ bề tôi chắc không dám dùng chữ “cố” đối với Triều đình; đây chỉ là trường hợp đảo ngữ, do đó, tạm dịch như trên. Nhưng biết đâu... Mặc dù là kẻ bề tôi (thời phong kiến chuyên chế), rất mực giữ trọn chữ trung, vẫn có lúc uất giận nào đó... (?). Theo lô-gích ngữ pháp, câu thơ này là một câu đơn, có mô hình b+V+C+[V]+tr hoặc: b+V+C+tr.

    (4) Sông Lô, sông Thao (nhánh, khúc của sông Hồng) khởi nguồn từ tỉnh Vân Nam (ở Trung Quốc), nơi Jean Dupuis đã lập kho cung cấp súng đạn, các phương tiện chiến tranh hiện đại cho quân Thanh, quân Hồi nổi loạn và cả cho quân giặc Cờ với âm mưu quấy rối, thu lợi nhuận (xem NĐNĐDVPVTH., sđd., tr. 86 - 90, mặc dù Y. Tsuboi trình bày phiến diện...; xem ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 252 - 253, 281...).

    37

    BẢY LẦN QUA SÔNG XƯƠNG

    Năm năm bảy chén chúc sông Xương
    Qua, lại, sao cam hiểm chặn đường
    Cứu nạn, nào không tàu máy tốt
    Lái thuyền, chưa định, buồm khiên cuồng!
    (1)
    Việc đời cuộn chảy, trông như nước
    Tim lính nghẹn ngừng, đọng tợ sương (2)
    Ngóng Bắc, triều đình thâu tối sớm
    Lô, Thao, trên sóng, nỡ hề tuồng!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Xin xem thêm bản dịch nghĩa bài này và phần chú thích. Tạm dịch như trên, hoặc:

    Cứu nguy, lỗi chẳng thuyền chèo tốt
    Cầm lái, ổn đâu, buồm mộc cuồng!


    (2) Trái tim đọng sương (hình ảnh tượng trưng gồm hai hình ảnh, hoán dụ và ẩn dụ [tim, sương], cấu tạo thành một), hoặc: nỗi âu lo, trăn trở khiến tóc hóa sương (Nghẹn thắt lòng tôi, kết tựa sương).

    Việc đời cuồn cuộn, trông như nước
    Tâm chí nghẹn ngào, đọng tựa sương.





    Bài 38

    BỆNH TRUNG KÍ PHỎNG ĐỒNG CHÍ


    Ngã sinh bất thị cộng sinh thần
    Cảnh ngộ thiên đồng thử nhược (khổ [?]) tân
    Đa bệnh tương lân sa mạc khách
    Quả tình tự tiếu đẩu sao nhân
    Ngư duyên tham nhĩ ưng vong thủy
    Nhạn cố li hàn vị báo xuân
    Kí đạo như kim tầm thị xứ
    Dã hoa sơn thái vị toàn bần.


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    38

    TRONG LÚC BỆNH, GỬI LỜI THĂM HỎI
    [BẠN BÈ] CÙNG CHÍ HƯỚNG

    [Chúng] ta sinh ra không phải cùng giờ sinh (1)
    Hoàn cảnh [mỗi người] gặp phải (: cảnh ngộ)
    [lại] nghiêng về [chỗ] giống [nhau], [là] cùng nỗi cay [đắng] ấy
    Lắm bệnh (2), cùng thương [nhau], [như những] người [đi trong] sa mạc [vốn rất gắn bó với nhau...]
    Ít (3) tình cảm [cá nhân, gia đình], tự cười [mình], [là những] kẻ nghèo nàn, hèn mọn (4) (: kẻ vác rá vo gạo và cái đấu đong gạo – chạy gạo)
    Cá bởi tham mồi nhử, nên quên nước
    Chim nhạn (5) cố ý rời bỏ sự lạnh lẽo [của tiết trời, của thời cuộc], cùng báo [tin mùa] xuân [đến]
    Nhắn gửi lời, hiện tại (6) (: [người] cùng hiện thời), [hãy] tìm đúng chốn [phải tìm]
    Hoa hoang dại, cỏ núi rừng, chưa [phải] hoàn toàn nghèo nàn (7).

    (1) “Cộng sinh thần”, không thể dịch là “tinh thần cùng sống chung” được. Bất kì với hình thái xã hội nào, loài người vẫn phải “cộng sinh”, hoặc bầy đàn, hoặc công xã, hoặc gia đình... Hai chữ “xã hội”, cho dù xã hội nào, thuộc thời đoạn lịch sử gì, cũng hàm nghĩa “cộng sinh”. Xem mục từ “thần”, TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 383; xem lại văn cảnh.

    (2) “Bệnh” cũng là bi phẫn, buồn lo, chưa hẳn là ốm đau.

    (3) “Quả” (ít), cũng là tiếng tự khiêm xưng, trong từ “quả nhân”. Xem chú thích (16), bản dịch nghĩa, bài thơ số 62.

    (4) Thử so sánh để thấy tác giả tự trào một cách khiêm tốn: “Đẩu tiêu nhân” đối cả từ loại với “sa mạc khách”. “Mạc” là bãi cát, “sa mạc” là bãi cát, vùng cát toàn cát. “Tiêu” là “đêm”. “Đêm” mấy khi không “sao”! Có đêm mùa đông, mưa, vắng “sao”, nhưng kì thực đêm luôn luôn bao gồm sao như bãi cát, miền cát luôn luôn bao gồm cát. “Sa mạc” và “đẩu tiêu” là hai cặp từ ghép chính phụ, không phải thuộc loại từ ghép đẳng lập. Nhưng ở đây là: Mải lo nghĩ việc nước, quên tình nhà, nên thành kẻ nghèo; không phải là ra đi trong đêm đen thời cuộc, nhìn sao bắc đẩu, nam đẩu mà tìm đường. Cấu tạo ngữ: “đẩu sao nhân” cũng như trên.

    (5) “Nhạn” (chim én), loại chim thiên di, biểu trưng cho việc nắng ấm mùa xuân về, cũng là chim đưa thư, như bồ câu.

    (6) “Như kim”, vốn được quen dùng với nghĩa là “hiện tại”, nhưng dịch sát nghĩa là “cùng hiện thời”. Ngữ, nhưng được dùng như từ.

    (7) Hiện nay, chỉ tìm được tập thơ này của Nguyễn Văn Tường (sáng tác từ 1869 đến 1877), gia đình hậu duệ lưu giữ được. Như vậy, có lẽ tư tưởng kháng chiến vũ trang từ hồi còn làm phủ doãn Thừa Thiên (ĐNTL.CB., tập 30, sđd., tr. 171 - 173), về sau này, vẫn còn nung nấu trong lòng ông khôn nguôi. Xin xem thêm bài “Kí phỏng nguyên Cao niết Nguyễn”, số 34. Và xin xem thêm ĐNTL.CB, tập 31, sđd., tr. 86 - 89 và tr. 103 - 104, về kế hoạch lập vùng căn cứ địa kháng chiến, khai phục đường mòn và khai thông thêm thượng đạo mới (sau này là đường mòn Hồ Chí Minh, quốc lộ 1B Hồ Chí Minh xuyên Trường Sơn).

    Hai câu kết của bài thơ cũng là tư tưởng của nhóm chủ trương kháng chiến vũ trang Thân Văn Nhiếp, Nguyễn Quýnh và tất nhiên, gồm vai trò của người vừa vạch kế hoạch vừa dấn thân bằng hành động Nguyễn Văn Tường. Xin xem hai bản tấu của Thân Văn Nhiếp và kiến nghị của Nguyễn Quýnh, Nguyễn Văn Tường, ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 83 - 84, 86 - 89, 103 - 104, 202 - 204, 244 - 245.

    38

    TRONG LÚC BỆNH,
    GỬI THĂM ĐỒNG CHÍ

    Sinh ta, giờ khắc không trùng nhau
    Cảnh gặp gần y, cay nỗi đau!
    Lắm hận cùng thương: người xứ cát
    Ít tình? Tự giễu: kẻ cơm rau
    Cá quen tham thịt, quên nguồn nước
    Én cố rời đông, báo sắc đào
    Nhắn gửi hiện giờ tìm đúng chốn
    Củ rừng hoa dại, toàn nghèo đâu!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ




    Bài 39


    VĂN SƯ THỨ HƯƠNG MANG


    Hương Mang kỉ lí khứ Tuyên thành?
    Giá thọ thê vân liệt đại doanh
    Cương Nỗ giang trình chấn đa kích
    Đại Đồng sơn thế cực hu (u) oanh
    Hiểm hi vị đỗ thiên môn kính
    Thanh tức tiên truyền ngũ đạo binh
    Chỉ xích Yên hà giai cố địa
    Hương Mang kỉ lí khứ Tuyên thành?


    NGUYỄN TÔN NHAN
    phiên âm và dịch nghĩa

    39

    NGHE TIN QUÂN ĐÓNG Ở HƯƠNG MANG (1)

    Hương Mang cách xa thành Tuyên (2) mấy dặm?
    Cây cối [như] giàn giá, mây trời [làm] giường, giăng bày nên trại quân lớn
    [Ở] Cương Nỗ (3), đường [nước] sông [chảy nhanh, mạnh như] dội sấm sét, bắn tung lắm [chỗ]
    [Tại] Đại Đồng (4) thế núi uốn lượn, rất [đỗi] quanh co
    [Những] cái hang, cái lỗ hiểm hóc chưa trám lấp [được], con đường [hẻm núi (5) nhỏ, mà lại mở ra] ngàn cửa [rừng]
    [Các] tiếng ủy lạo (an ủi, vỗ về, động viên) đã truyền trước [đến] quân năm đạo (6)
    Sông Yên (7) [mỗi] thước, tấc (8) đều là đất cũ [của nước mình] (9)
    Hương Mang cách xa thành Tuyên (2) mấy dặm?

    (1), (2) Hương Mang hẳn là tên một rặng núi ở tỉnh Tuyên Quang (ĐNTL.CB., tập 34, sđd., tr. 273). ĐNNTC., tập 4, sđd., chương về tỉnh Tuyên Quang không đề cập đến địa danh này (sđd., tr. 333 - 363).

    (3) Cương Nỗ có một ngã ba sông (ĐNNTC., sđd., tr. 351) và bến đò (sđd., tr. 356)...

    (4) Đại Đồng (ĐNNTC., sđd., tr. 342, 356, 357). Đó là nơi buôn bán tấp nập, có thể gọi là đô hội (sđd., tr. 356).

    (5) Phải chăng tác giả viết về Tiểu Hiệp (sđd., tr. 348)?

    (6) Đạo: một đơn vị lớn của quân đội ngày xưa. Có thể hiểu là một cánh quân, một mũi tiến công.

    (7) Sông Yên Long, thuộc Tuyên Quang (ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 350).

    (8) Thước, tấc ta (40cm, 4cm).

    (9) Xem ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 334 - 335, về sự lấn chiếm, trao trả các vùng đất ở biên giới nước ta và Trung Hoa (xung đột biên giới vốn là một vấn đề lớn từ xa xưa). Tác giả có vẻ luyến tiếc những động đất, dặm đất bị chiếm đoạt đó. Xem bài thơ số 30, “Cùng thống đốc Hoàng lên đài cờ, cảm xúc”:

    “Cố miện “chiềng chùy” (?) cao các mộng”!

    39

    NGHE TIN
    QUÂN ĐÓNG Ở HƯƠNG MANG

    Hương Mang xa mấy thành Tuyên Quang?
    Mây chõng, cây giàn, trại lính giăng
    Cương Nỗ luồng sông, nhiều sấm dội
    Đại Đồng thế núi, lắm lườn ngang
    Lỗ nguy chưa lấp: nghìn truông cửa!
    Lời sáng đã truyền năm cánh quân
    Gang tấc sông Yên đều đất cũ
    Hương Mang xa mấy thành Tuyên Quang?


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    8. NGUYEN VAN TUONG (1824 - 1886) -- THO -- VAI NET VE CON NGUOI, TAM HON & TU TUONG / Tệp 8

    Bài 13

    ỨC KINH ẤU NỮ


    Kim niên ấu nữ ngũ niên xuân
    Mỗi ức thần hôn lãng tiếu tần
    Dục tỉ nam nhi an nhĩ mẫu
    Khước kinh hồ thỉ lão biên trần.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    13

    NHỚ CON GÁI TRẺ THƠ Ở KINH ĐÔ

    Năm nay tuổi bé lên năm rồi
    Mỗi nhớ sớm hôm chợt nói cười
    Muốn sánh con trai yên trí mẹ
    Chợt lo hồ thỉ bụi già đời.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    13

    NHỚ CON GÁI TRẺ THƠ Ở KINH ĐÔ (1)

    Năm nay con gái trẻ thơ [đã trải qua] năm mùa xuân
    Mỗi lần [nhớ con, đều] nhớ [từ] sáng sớm [đến] chiều
    hôm [con] hồn nhiên, tinh nghịch, cười hoài (nhiều lần)
    Muốn ví [con] là con trai [cho] yên [lòng] người mẹ [của] con
    Chợt lo [là con trai sẽ bị] cung, tên (2) [của chiến
    tranh] lại làm [cho] già nua với [khói] bụi biên giới!

    (1) Kinh đô Huế.
    (2) Hồ thỉ (cung tên): chí làm trai.

    13

    NHỚ CON GÁI TRẺ THƠ Ở KINH ĐÔ

    Năm nay con gái lên năm rồi
    Hoài nhớ sớm hôm hay nhoẻn cười
    Muốn ví là trai yên dạ mẹ
    Chợt lo súng ải (1) bụi già đời!


    (bản biên soạn)

    (1) Hồ (cung), thỉ (tên) + biên (biên giới). Tạm dịch: Súng ải.

    (2) “Hồ thỉ”: chí làm trai; nếu dịch theo nghĩa bóng này:
    “Chợt lo tráng chí bụi già đời!”.

    Bài 14

    ĐẮC BÁO NGUYÊN TÔN SINH


    Thử thân gia khánh hựu quân ân
    Cuộc ngoại phù trầm khởi túc luân (luận)
    Niên cận ngũ tuần tằng sự tổ
    Thư lai thiên lí báo sinh tôn (1)
    Quyên ai vị đáp thường ưu lão
    Lam chướng tuy thâm cảm ái ôn
    Trung hiếu ngô môn bồi dưỡng hậu
    Miễn tai tố nghiệp các nghi đôn.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    14

    ĐƯỢC TIN SINH CHÁU NỘI ĐẦU

    Thân này, mừng họ, ơn vua ban
    Chìm nổi giữa đời chẳng đủ bàn
    Năm chục, ta cầu, tiên tổ sáng
    Dặm nghìn, con viết, đích tôn ngoan
    Ơn sâu chưa đáp từng lo lão
    Lam chướng đã nhiều dám thích nhàn
    Trung hiếu nhà ta bồi dưỡng tốt
    Gắng noi nghiệp cũ, trau nếp văn.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    (1) Bản chép chữ Hán nhầm, cứ chép theo đầu đề là “tôn sinh”. “Sinh tôn” mới hợp vần và chỉnh đối, nghĩa vẫn vậy.

    14

    ĐƯỢC TIN SINH CHÁU NỘI ĐẦU

    Đó là phúc của bản thân mình, cũng là ơn vua (1)
    [Nhưng] chìm nổi [như thể] ngoài cuộc, bàn lo [cho lễ mừng ấy] làm sao đủ đầy, trọn vẹn!
    Tuổi [đã] gần năm mươi, [thường] trải việc thờ phụng tổ tiên (2)
    Thư đến [từ] ngàn dặm, [mới] báo [đứa] cháu [được] sinh ra
    Bụi bặm [giũ sạch ở] khe nước (: ơn mưa móc) (3) chưa
    đáp đền, [nên] mãi lo [bản thân chóng] già nua
    Bệnh sốt rét [do] khí núi độc (3), tuy lạm (nhiễm quá mức), [vẫn đâu] dám yêu thích vẻ ấm áp
    [của cảnh nhà]!
    Lòng trung, đức hiếu nhà (họ) mình vun đắp, nuôi dưỡng đầy đặn (4)
    Gắng nhé! [Cố sức cho] truyền thống gia phong cao khiết,
    trong sạch [hoặc vốn có], [mọi điều,
    mọi người] đều [phải] nên trau dồi [dốc sức] (4).

    (1), (2), (4) Có lẽ ngoài điều tâm niệm của kẻ sĩ Nho giáo là tam ân (ơn dân, ơn nước, ơn vua), tác giả còn muốn nhắc đến sự khoan dung khỏi bị tội lây do thân nhân (thân sinh dính líu vào một cuộc nổi dậy nhỏ bởi sự áp bức của quan huyện hoặc lí tưởng) (?) và sự xóa án về chữ “Phúc” (Phúc Tường: cái tốt đẹp trong lòng; Văn Tường: cái đẹp phô trương ra ngoài), khi Tự Đức lên ngôi vua (xem ân chiếu chung, ĐNTL.CB., sđd., tập 27, tr. 39 - 40). Án về chữ “Phúc” (còn đọc là “Phước”), chỉ do sự chép nhầm từ “Phúc” nghĩa là “nỗi niềm trong lòng”, “trong lòng dạ” thành chữ “Phúc” có nghĩa là “những điều may mắn, tốt đẹp” – chữ “Phúc” của họ Nguyễn Phúc (hoàng tộc) –, bởi các học quan (Bộ Lễ), quan chủ khảo, quan đề điệu, trên danh sách tú tài trúng tuyển do chính các quan ấy viết... Phải chăng là vậy? Vả lại, họ Nguyễn Phúc hoàng tộc đã được vua Minh Mạng đổi thành Tôn Thất (đối với chi xa), hoặc đã định cách đặt tên theo đế hệ thi (chi chính), phiên hệ thi (chi gần), từ trước năm 1832 (Xem: ĐNTL.CB., tập 11, sđd., tr. 222; tập 23, sđd., tr. 119 – 122)… Về bản án “Nguyễn Phúc”, họ vua, xem ĐNTL.CB., sđd., tập 24, tr. 163 - 165; Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, bản dịch, sđd., Nxb. TP. HCM., 1993, tr. 297: [?!]. Xin xem chú thích (16) ở bản dịch nghĩa bài số 56 (*).

    (3) Nguyên văn: “quyên ai” (bụi bặm / trong sạch; dòng nước nhỏ [và] bụi bặm; lần lượt [được] chọn lọc [?]...).

    “Quyên ai” đối với “lam chướng”.
    “Lam” (khí núi bốc lên); “chướng” (bệnh ở bên trong).

    Đó là hai cặp từ ghép chính phụ hoặc đẳng lập (danh từ + danh từ):

    Bụi-bặm [và / ở] khe-nước-nhỏ...
    Bệnh-sốt-rét [và / do] khí-độc-núi-rừng.

    Do đó, có lẽ “quyên ai” là từ chỉ việc tắm gội (các nhà nho thường dùng thành ngữ: “tắm gội ơn mưa móc”), lễ tẩy trần, quyên cát (trai giới trong sạch, chuẩn bị cho việc thiêng liêng như mừng năm mới, kị giỗ...).

    Chắc “quyên ai” là nghi thức đền đáp, nho sĩ Nguyễn Văn Tường, trang trọng một cách lặng lẽ, thực hiện khi nhận được tin có cháu nội đầu (“nguyên tôn”), với niềm xúc động sâu xa.

    Tuổi gần năm mươi mới có cháu nội đầu tiên là khá muộn, trong thời bấy giờ!

    Bài thơ hé mở về thân thế, hoàn cảnh riêng tư của tác giả.

    [Về các từ, xem TĐHV., sđd., tr. 4, 191, 480 (tập thượng), 169 (tập hạ)].

    Tuy nhiên, “quyên ai”, theo Thiều Chửu, HVTĐ., sđd., tr. 232, 345, còn có nghĩa là hạt bụi tí tẹo, ví với sự bé mọn. Với nghĩa này, từ tố “quyên” (dòng khe nhỏ, tia nước nhỏ) bị mờ nghĩa hoàn toàn. Lẽ ra phải là “hạt bụi tơ sương”. “Quyên ai” trở thành một hình ảnh tự ví, tự xưng, với tập quán khiêm tốn: thân bụi, phận sương.

    Xin ghi chép thêm cho rộng đường cảm thụ, cùng với vài dòng mạo muội suy luận.

    14

    ĐƯỢC TIN SINH CHÁU NỘI ĐẦU

    Ơn vua, thọ tộc, phúc thông gia
    Ngoài cuộc, sao bàn! Chìm nổi xa!
    Năm chục, tuổi kề, hương lạy vọng
    Dặm ngàn, thư báo, cháu sinh ra
    Chưa đền, bụi – suối (1) lo mau lão
    Dẫu lạm sốt – sương, dám ấm nhà!
    Trung hiếu họ mình đầy đặn đắp
    Gắng trau nghiệp cũ, nếp ông cha!


    (bản biên soạn)

    (1) Tạm dịch:

    Bụi mưa, chưa đáp, lo mau lão
    Sương sốt, dù vương, dám ấm nhà!


    Hoặc:

    Thân bụi chưa đền, lo sớm lão
    Phận sương dù nhiễm, dám yên nhà!



    Cước chú của bài thơ số 14, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*) Xin xem thêm: Trần Xuân An, “PCĐT. Nguyễn Văn Tường”, bộ truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, (bốn tập), tập I: truyện thứ nhất, “Quốc tính và người học trò tội đồ không chịu đổi tên”. Ở truyện này, vấn đề đó đã được giải quyết một cách chi tiết và xác thực hơn.


    Bài 15

    TẶNG BẮC PHIÊN
    PHẠM QUAN THÀNH
    QUY TỈNH THÂN BỆNH


    Quân thúc quy trang, ngã hựu hành
    Bạch đầu chỉ vị biệt li sinh
    Lâm kì tương tống nan tương biệt
    Vạn mộc tùng trung nhất điểu thanh.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    15

    TẶNG BỐ CHÁNH BẮC NINH
    PHẠM QUAN THÀNH
    VỀ THĂM BỆNH CHA MẸ

    Bạn gói hành trang, tôi lại đi
    Bạc đầu chỉ sống với chia li
    Đến khi đưa tiễn khôn từ tạ
    Vọng giữa khóm cây tiếng tử quy!
    (1)

    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    (1) Tử quy, còn có tên khác, là đỗ quyên, thường gọi là chim cuốc hoặc chim quốc quốc. Thơ Bà Huyện Thanh Quan có câu:

    “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

    (Qua đèo Ngang)

    Chúng tôi (TXA. – nbs.) tạm thay vào hai chữ “tử quy” này, bởi lúc bấy giờ nước ta đã bị Pháp bức chiếm ba tỉnh Miền Đông Nam Kì (1862) và Phan Thanh Giản “dâng đất” tiếp ba tỉnh Miền Tây (1867) cho chúng! Vả lại, tứ thơ rất sâu, cực kì hàm súc: “Vạn khóm cây trong một tiếng chim”, một tiếng chim gợi nên cả một miền Đất nước, một không gian mênh mông, xa cách... Cả một phức hợp cảm xúc, nỗi niềm! Nhưng, đây chỉ là một cảm nhận, có lẽ hơi khiên cưỡng, lúc ướm thử vần!

    Xin xem thêm : “Truyện đọc”, lớp 5, Đỗ Quang Lưu, Vân Thanh tuyển chọn, Nxb. Giáo Dục, 2000, tr. 31 - 36: “Sự tích chim quốc” (Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, Kho tàng truyện cổ Việt Nam, tập 1). Đó là một truyện kể về tình bạn thắm thiết giữa hai nhân vật, Quắc và Nhân.

    15

    TẶNG BỐ CHÁNH BẮC NINH
    PHẠM QUAN THÀNH (1)
    VỀ THĂM BỆNH THÂN SINH

    Bạn gói gắm hành trang [để] về [nhà], tôi [cũng]
    lại ra đi
    Bạc đầu chỉ [chịu đựng] bởi đời sống [quá nhiều lần] chia biệt!
    Đang khi cùng tiễn chân nhau [nhưng] khó cùng cách biệt nhau
    [Ngỡ như nghe, thấy] vạn khóm cây [bạt ngàn lại chỉ gói trọn] trong một tiếng chim!

    (1) Phạm Thận Duật còn có biệt hiệu Vọng Sơn, Quan Thành. Ông là tác giả của các cuốn sách: Hưng Hóa kí lược, Quan Thành tấu tập, Vãng sứ Thiên Tân nhật kí, Quan Thành văn tập (*).

    “Quan Thành”: nhất định không thay đổi quan niệm (cách nhìn nhận).

    “Vọng Sơn”: ngọn núi để làm tiêu đích định hướng cho người đi đường rừng; núi để đặt trạm quan sát...

    Hình tượng trong danh hiệu tự đặt thường để tỏ chí mình.

    15

    TẶNG BỐ CHÁNH BẮC NINH
    PHẠM THẬN DUẬT
    VỀ THĂM BỆNH THÂN SINH

    Bạn gói hành trang, tôi lại đi
    Bạc đầu chỉ bởi kiếp sinh li (1)
    Đang khi cùng tiễn khó cùng biệt
    Vạn khóm xanh trong tiếng tử quy!
    (2)

    (bản biên soạn)

    (1) Nếu Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật đều là “vọng sơn”, hai ngọn núi kề nhau, chắc hẳn tình bạn của họ không bao giờ “tương biệt”. Ở một khía cạnh nào đó, câu thơ thể hiện tâm thức về “kiếp người” của tác giả. Làm người, thấu hiểu khổ đau và hạnh phúc...

    (2) Vạn núi một xanh tiếng tử quy!


    Cước chú của bài thơ số 15, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*) Xem: Nhiều tác giả, “Nguyễn Trọng Hợp, con người và sự nghiệp”, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội sử học Hà Nội & Nxb. Hà Nội, 1996, tr. 127. Đây là cuốn sách về “con người và sự nghiệp” của Nguyễn Trọng Hợp, một kẻ thỏa hiệp với Pháp, được Pháp ca ngợi; đến lúc chết lại được Pháp tổ chức rất trọng thể, có lính hộ tống, đàn áp ([ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 137]).



    Bài 16

    TẶNG TỪ THỦ TRƯƠNG CÚC VIÊN
    PHÓ CHỨC


    Phủ dĩ Từ danh hựu xử trung
    Như hà khống ngự diệc vi xung
    Liêm năng đề bảo khâm quân dụ
    Kinh tế di trù xuất tướng công
    Tằng cụ ngưu đao xưng vũ tể
    Bất nan độc kiếm hóa văn ông
    Tức kim giáp đạo hoan nghinh giả
    Mạc thị đương niên ngộ đối phong.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    16

    TẶNG TRƯƠNG CÚC VIÊN
    ĐI NHẬN CHỨC TRI PHỦ TỪ SƠN

    Tên phủ là Từ lại ở trung
    Làm sao chống giữ chốn vi xung
    Liêm năng gìn giữ lời vua dạy
    Kinh tế lo trù từ tướng công
    Từng đủ dao trâu vưng võ tướng
    Khó gì gươm ghé hóa văn ông
    Như nay gặp gỡ lòng vui thú
    Chẳng giống thuở nào trót nhận phong.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    16

    TẶNG TRƯƠNG CÚC VIÊN (1)
    ĐI NHẬN CHỨC QUAN ĐẦU HUYỆN TỪ (2)

    Phủ vốn [có] tên [là] Từ, [địa thế] xứ [ấy] lại ở trung tâm [Bắc Bộ] (lại sống ngay thẳng) (3)
    Làm sao cai quản cho dân theo luật pháp, [đồng thời] cũng làm đường thông thương bốn hướng (hoặc: Sao
    không xem việc phòng ngự,
    khống chế [quân giặc] cũng như là việc xung trận)
    Trong sạch, không tham ô [và] chăm việc, [quan] nêu
    cao sự gìn giữ [đức tính đó], tuân lời dụ [của] vua
    Việc lo nước giúp đời, [quan càng nên] trù liệu cả cho
    mai hậu, [gắng] vượt hơn [cả] lẽ chí công
    [của] tướng
    [Bạn] từng đủ dao trâu [để] xưng là người đứng đầu [về tài năng], [trong] quân đội
    Khó gì gươm bê con (bò nhỏ) [để] trở thành
    kẻ nổi tiếng [hệt lão thành] trong
    giới [văn học] quan văn (4)
    Như hiện nay, thôn xóm, tỉnh đạo [đều]
    hoan nghênh bạn
    Đừng như thế [nhé]! [Đừng xem] năm gánh vác [việc công như thể] trót lỡ nhận phong chức.

    (1) Trương Quang Đản (ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 142).

    (2) Huyện Từ Sơn, thuộc tỉnh Bắc Ninh.

    (3) Đây lại là câu chơi chữ địa danh: “Từ Sơn”, trong đó chữ “Từ” có nghĩa là người trên thương yêu người dưới, tình thương chung, cũng là tiếng để gọi người mẹ (TĐHV., sdđ., tập hạ, tr. 333). Chữ “Trung” này là ở giữa (trung tâm, miền Trung); ngay thẳng. Trương Quang Đản là người miền Trung (Quảng Ngãi), có thể ông cũng là người xử đoán công việc ngay thẳng, lại đang làm việc ở một phủ trung tâm Bắc Bộ, vùng đất của quan họ trữ tình, có ngọn núi biểu tượng cho người mẹ, tình yêu thương [ĐNNTC., sđd., tập 4, tr. 76 - 77: núi Phả Lại, Đại Lãm, không có núi Từ Sơn]. Ngọn núi ấy không có thực, chỉ ở trong tâm thức, khát vọng (hay là phần mộ?) chăng?

    (4) Tác giả coi quan lại (vốn được xem là cao sang) cũng như người đồ tể (“đồ, điếu”, người mổ gia súc để cung cấp thịt, người sống bằng nghề câu cá, chài lưới, vốn bị xã hội cũ đánh giá là hạ tiện). Đồ tể và quan lại đều phục vụ dân, nước, có giá trị như nhau, xét trên quan niệm cống hiến có ích cho xã hội. Đây là cách nhìn nhận khác lạ so với đương thời. Khía cạnh khác: xem quan võ quan trọng hơn quan văn (hẳn vì thời chiến). Dẫu sao, cũng chỉ là cách nói cường điệu bằng lối khẩu khí, phóng đại trong sự thân tình.

    16

    TẶNG TRƯƠNG QUANG ĐẢN
    ĐI NHẬN CHỨC
    QUAN ĐẦU HUYỆN TỪ SƠN

    Phủ vốn tên Từ, giữa xứ Hồng (1)
    Làm sao chống giữ, bốn phương thông
    Liêm năng nêu sáng, tuân lời dụ
    Kinh tế trù xa, vượt lệnh công
    Từng đủ đao trâu xưng võ tướng
    Khó gì gươm nghé hóa văn ông
    Như nay thôn, huyện mừng anh đến
    Đừng giống năm kia trót nhận phong!


    (bản biên soạn)

    (1) Xin xem chú thích (3), bản dịch nghĩa bài thơ này.

    Câu trên có thể dịch:

    “Phủ vốn tên Từ, giữa đất Hồng”

    hoặc:

    “Phủ vốn tên Từ, tụ mấy đường”

    Nhưng dịch như thế chỉ toát được mỗi một ý của tác giả.


    Bài 17

    TẶNG KIM TÂN CỰU LÊ, TRẦN,
    NHỊ HUYỆN DOÃN


    Kim châu hà trạch ngã châu nhân
    Khứ dã Lê huynh tiếp dã Trần
    Dân chính dĩ am công hựu thí
    Quân cơ vị học tội duy quân
    Cựu tân tương cáo liên đồng bệnh
    Giao đại hà do nhạ dị văn
    Xử thế mạc phi tranh giả ngộ
    Hoạn đồ bình bí (pha) mỗi tương nhân.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    17

    TẶNG LÊ, TRẦN,
    HAI QUAN HUYỆN CŨ, MỚI
    CỦA HUYỆN KIM

    Huyện Kim khéo chọn người cùng châu
    Trước đó Lê huynh, Trần tiếp sau
    Dân chính đã quen công lại thử
    Quân cơ chưa học tội đều nhau
    Cựu tân lời hỏi thương đồng bệnh
    Giao hoán văn xem ngại khác câu?
    Ở thế chẳng đua tranh mới gặp
    Hoạn đồ ngay lệch có nhân sâu.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    17

    TẶNG LÊ, TRẦN (1),
    HAI QUAN HUYỆN CŨ, MỚI
    CỦA HUYỆN KIM (2)

    Châu Kim sao [được] chọn người châu mình? (3)
    Đã qua là anh Lê, tiếp đến là Trần
    Việc dân chính vốn am hiểu, công lao [vẫn] lại xét
    Chuyện quân cơ chưa học, đáng tội nhưng chia đều (4)
    [Kẻ] cũ, [người] mới cùng chào (thăm hỏi) nhau, thương nhau cùng nỗi bệnh
    [Người] trao, [kẻ] đổi sao còn ngại khác biệt nguồn tin?
    Ở đời, [chúng mình] đừng đều phạm lỗi lầm; tranh đua, ấy là hòa hợp (5)
    Con đường làm quan, bằng phẳng [hay] nghiêng lệch, mỗi việc đều cùng [đối ứng (tương ứng) với] nguyên nhân (6).

    (1) Chưa rõ là ai.

    (2) Kim Anh, thuộc tỉnh Bắc Ninh (ĐNNTC., sđd., tập 4, tr. 63).

    (3) Có lẽ do luật hồi tị (tránh làm quan nơi nha sở có thầy dạy học của mình hay bà con ruột thịt làm quan, hoặc nơi quê hương bản quán có họ mạc lâu đời ở đó...). “Ngã” là “tôi”, cùng nghĩa với chữ “ta”, chữ “mình” trong tiếng Việt, có khi dùng để nói cho thân tình. Xem hai chú thích (1), (2) bản dịch thơ bài số 2.

    (4) Chương trình, nội dung học tập của kẻ sĩ ngày xưa có hạn chế này: ít học về quân cơ, binh pháp (quân sự).

    (5) Tranh đua nhưng có mục tiêu chung cao đẹp.

    (6) “Xử thế / mạc phi // tranh giả ngộ”, xin hiểu thoát là, ứng xử với đời / đừng nói xấu người (đừng sai lầm) // [rằng:] tranh đua khác với hòa hợp, mà chính sự tranh đua lại là sự hòa hợp đích thực, đó là sự gặp gỡ nhau trong tư tưởng, trong công việc, đó là sự đãi ngộ nhau; tranh đua không phải là thù ghét, tiêu diệt nhau. Câu trên chỉ là mệnh đề ghép với lô-gích phủ định của phủ định.

    17

    TẶNG LÊ, TRẦN,
    HAI QUAN HUYỆN CŨ, MỚI
    CỦA HUYỆN KIM

    Huyện Kim sao chọn người châu mình?
    Trước đó Lê nay Trần đệ huynh
    Dân chính vốn quen, công lại xét
    Quân cơ chưa học, tội đồng tình!
    Vừa chào, giao, nhận, thương cùng bệnh
    Còn ngại, đổi, trao, ngờ khác tin?
    Đừng lỗi, ở đời, tranh tức hợp
    Nẻo quan nghiêng, phẳng,
    quả – nhân sinh...
    (1)

    (bản biên soạn)

    (1) Một chút cảm nhận và lạm bình khi chuyển lại ngôn ngữ thơ:

    Tranh đua, ấy là hòa hợp – mệnh đề khẳng định giản dị! Đó là nguyên lí tồn tại, là lẽ sống, vì mục tiêu: nhân bản (có tính nhân loại), tiến bộ, văn minh, hạnh phúc... Nhà thơ Nguyễn Văn Tường đã làm mới mẻ triết học biện chứng âm dương, lại kết hợp với luật nhân quả rất dân dã cổ đại (vốn được Đức Phật nâng lên thành cốt tủy của Phật học). Đây là một nét thơ rất trí tuệ (thơ triết lí) trong phong cách nghệ thuật trữ tình – chính trị của ông.

    Hình như Nguyễn Văn Tường cố tìm một cách nói nước đôi, do sự dè dặt khi phát biểu một tư tưởng mới lạ đến thế, trong thời điểm bấy giờ? Nét chung nhất của thơ Nguyễn Văn Tường là tích cực, nhiệt tình, dấn thân vì nước, vì dân một cách không mệt mỏi, và vì cả triều đại nhà Nguyễn nữa, trước nạn thực dân Pháp và nạn phỉ Tàu... Tuy nhiên, tư tưởng trên chỉ gói gọn trong phạm vi ửng xử nội bộ, chưa bàn đến một dạng khác của đua tranh: mâu thuẫn đối kháng, chiến tranh xâm lược và chiến tranh chống xâm lược - đua tranh này, là sự-đua-tranh-phản-đua-tranh, là hủy diệt...

    Hai câu kết cũng có thể dịch:

    “Ở đời, chớ “chẳng đua là hợp”
    Ngay, lệch nẻo quan, nhân – quả sinh”...


    Dẫu với nghĩa nào đi nữa, cũng phải lưu ý đến luật nhân quả hiện thực.




    Bài 18

    DẠ VŨ TRÌNH THỐNG ĐỐC
    HOÀNG ĐẠI NHÂN


    Tương khứ tài li chỉ xích dinh
    Tương khan dạ hạ vũ sơ đình
    Thâm tâm tương chiếu ưng như thủy
    Tanh (tinh) uế tương kì tẩy nhất thanh.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    18

    ĐÊM MƯA TRÌNH VỚI THỐNG ĐỐC
    HOÀNG ĐẠI NHÂN

    Mới đến rồi đi doanh trại gần
    Cùng trông đêm hạ, giọt mưa ngừng
    Soi sáng thâm tâm trong tựa nước
    Dơ bẩn bao giờ rửa sạch tưng.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    18

    ĐÊM MƯA, BÀY TỎ VỚI THỐNG ĐỐC
    HOÀNG ĐẠI NHÂN (1)

    Cùng ra đi, mới rời doanh trại gần [đây]
    Cùng nhìn trông mùa hè về đêm, cơn mưa bắt đầu ngừng [rơi]
    [Hai] tấm lòng [tận] sâu thẳm cùng soi chiếu cho nhau, như thể [những giọt] nước soi chiếu cho nhau
    (:tương ứng) [để cùng sáng]
    [Bao] dơ bẩn, tanh tưởi cùng [một] thời (hoặc: cùng hẹn),
    [quyết] một (2) tẩy sạch!

    (1) Hoàng Tá Viêm (Hoàng Kế Viêm), (ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 94...).

    (2) Thơ Thâm Tâm có câu: “Li khách, li khách, con đường nhỏ! Một giã gia đình, một dửng dưng....”. Chữ “một” (nhất) vốn bày tỏ sự quyết tâm, ở đây còn thể hiện sự đồng nhất:

    “Tanh bẩn cùng thời, một sạch tưng”.
    Một + (động từ).

    18

    ĐÊM MƯA BÀY TỎ VỚI THỐNG ĐỐC
    HOÀNG TÁ VIÊM

    Cùng bước, mới rời, trại khuất lưng
    Hạ đêm cùng ngắm, mưa vừa ngừng
    Lòng nhau, cùng sáng soi như nước
    Tanh bẩn, hẹn cùng một sạch tưng!


    (bản biên soạn)



    Chùm thơ ba bài 19. 20. 21

    HỌA NHẠC ÔNG KÍ PHỎNG TAM THỦ
    NGUYÊN VẬN


    19: BÀI A

    Xứ xứ sầu văn đãi bô ngao
    Ưu thâm nan tả chuyển sinh trào
    Thừa lương thí hướng cao lâu vọng
    Đố nhãn nhưng đa vị ngải cao (hao).


    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm

    19. 20. 21

    HỌA NGUYÊN VẦN BA BÀI THƠ
    CỦA BỐ VỢ GỬI HỎI THĂM

    19: BÀI A

    Buồn nghe khắp nơi tiếng khóc chờ mớm cơm
    Nỗi lo day dứt không thể tả bỗng trở thành buồn cười
    Lúc dạo mát thử nhìn về phía lầu cao
    Vẫn còn nhiều đôi mắt căm ghét nhìn mãi, chưa thuốc thang!

    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    dịch nghĩa
    (và dịch thơ ở lời giới thiệu).

    19. 20. 21
    HỌA NGUYÊN VẦN BA BÀI THƠ
    CỦA BỐ VỢ (1) GỬI HỎI THĂM

    19: BÀI A

    Nơi nơi, buồn rầu nghe tiếng khóc trẻ con (vừa đùa chơi vừa khóc) (2) chờ được bú mớm (ăn)
    Nỗi âu lo sâu [nặng] khó viết thành chữ (bày tỏ) chuyển thành buồn cười
    Dạo mát, thử hướng [lên] lầu cao [để] ngóng nhìn
    [Những đôi] mắt căm ghét vẫn còn nhiều (nhiều như
    cũ); chưa [có] hơi [sắc] thuốc ngải cứu bốc lên (3)
    [để chữa căn bệnh xa hoa, phung phí ở nơi nhà hàng, khách sạn ấy].

    (1) Chưa rõ là ai.

    (2) Ngao: chơi nhởi + kêu khóc.

    (3) Ngải cao, theo ĐNNTC., sđd., tập 1, tr. 322: “Ngoài tên gọi là ngải cứu, ngải cao còn có tên là thủy đài, bệnh thảo, có công dụng làm giảm đau nhức, an thai, đặc biệt là ngải cứu trừ mọi thứ bệnh. Ngày đoan ngọ (mùng 5 tháng 5), người xưa hái cây ngải bện thành hình con hổ, treo trước cửa, có thể trừ khí độc”. Hẳn đó là một hình thức trong “Ngày trầm hương thơ ca”, xa xưa để tưởng niệm Khuất Nguyên. Ngải cao (ngải cứu) ở đây là một biểu trưng, chỉ chung về thuốc thang, sự cứu chữa các loại bệnh, mọi nỗi đời.

    Chữ “cao” cũng có nghĩa là “hơi bốc lên”.

    19. 20. 21

    HỌA NGUYÊN VẦN BA BÀI THƠ
    CỦA BỐ VỢ GỬI HỎI THĂM

    19: BÀI A

    Chờ cơm trẻ khóc, buồn nơi nơi
    Khôn tỏ thương lo, hóa bật cười
    Lầu rộng mắt đầy tia hận ghét
    Dạo trông, đâu thuốc cứu niềm đời?


    (bản biên soạn 19/1)

    19: BÀI A

    Khắp chốn tiếng vòi trẻ đói ăn
    Trĩu lo, tim chật phải cười tràn
    Dạo trông, thử hướng nhà hàng ngóng
    Đấy mắt ganh nhiều, chưa thuốc thang!


    (bản biên soạn 19/2)



    Chùm thơ ba bài 19. 20. 21

    HỌA NHẠC ÔNG KÍ PHỎNG TAM THỦ
    NGUYÊN VẬN


    20: BÀI B

    Đô môn hồi thủ vọng môn đường
    Tâm sự mang nhiên tỉnh tự cuồng
    Hạp kiếm bất minh hồ hữu mã
    Huyền ngư nan trí nhĩ vô hương
    Đế ưu biên hoạn cầu trường sách
    Thiên yếm binh hung hạnh tiểu khương
    (khang)
    Tá trợ vô năng tàm ẩm chí
    Giới [cá?] mi dao ức chước xuân trường.


    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm

    19. 20. 21

    HỌA NGUYÊN VẦN BA BÀI THƠ
    CỦA BỐ VỢ GỬI HỎI THĂM

    20: BÀI B

    Từ công đường ngó mong về nhà cũ
    Tâm sự ngổn ngang tỉnh mà như điên
    Gươm nằm trong vỏ, có con ngựa hồ không hí
    Câu cá khó mà móc mồi không thơm
    Vua lo nỗi lo biên thùy, tìm kiếm kế hay
    Trời ghét chuyện chiến tranh mong được chút
    yên ổn
    Ăn uống sao cũng thấy thẹn thùng vì mình bất tài
    Cau mày nhớ lại thời chuốc chén xuân vui vẻ đã xa.

    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    dịch nghĩa

    19. 20. 21

    HỌA NGUYÊN VẬN
    BA BÀI [THƠ] CỦA BỐ VỢ (1)
    GỬI HỎI THĂM

    20: BÀI B

    [Ở] bản doanh tướng sĩ, ngoảnh đầu ngóng nhìn về nhà cửa [ở quê hương]
    Tâm sự ngổn ngang, tỉnh như điên cuồng!
    Kiếm [trong] hộp không vang (2), bọn giặc man rợ (giặc Cờ) có ngựa (3)
    Cá [trên] dây khó đem đến tận nơi [sông, suối], [bởi biết] mồi nhử không mùi thơm
    Vua lo nạn biên cương, cầu mong kế sách tốt
    Trời chán ngán sự dữ dội [của] binh đao, thích niềm an vui nhỏ bé [cho mỗi người] (4)
    Mượn đũa, [cảm thấy mình] không tài năng, [những] thẹn thùng [cả] việc uống [rượu] nhiều
    Phần giữa hai vạch lông mày giần giật
    [hoặc: hai vạch lông mày thẳng ra (:chau mày)],
    nhớ [thuở] xa xăm chuốc chén xuân (5).

    (1) Chưa rõ là ai.

    (2) Thời Chiến quốc, có bọn trộm đào mồ tìm của cải, chỉ thấy một thanh gươm reo vang, bay lên trời. Điển khác: Vua Sở truyền cho Mạc Gia đúc kiếm. Kiếm trong vỏ kêu lên rất bi thương. Quần thần bảo, kiếm hùng (trống) nhớ kiếm thư (mái) vì kiếm cũng có vợ chồng! (TĐTNTN., sđd., tr. 324).

    (3) Dân tộc Hồ ở Trung Hoa, thường dùng một cách ước lệ trong văn học cổ. Xem chú thích, Thơ Đường, Nxb. Văn Học, 1987, tập I, tr. 115, 167 và tập II, tr. 39, câu thơ thứ hai ở tr. 43... Xem bài “Phò giá tòng kinh sư” của Trần Quang Khải (đời Trần).

    (4) Tiểu khang (khương): sự khỏe mạnh, sự an vui nhỏ bé (vì của mỗi người); cũng có thể dịch: niềm an vui nhẹ nhàng.

    (5) “Xuân trường” (trường, tràng = thương; [trường chỉ là chữ chỉ âm đọc]): cái chén bằng sừng [đựng rượu nồng như] mùa xuân. Ngày xưa người phương Tây dựng rượu ở túi da dê, người phương Đông đựng ở bong bóng lợn (?). Do đó, “xuân trường” là chén xuân (hoặc bầu xuân?).

    19. 20. 21

    HỌA NGUYÊN VẬN BA BÀI THƠ
    CỦA BỐ VỢ HỎI THĂM

    20: BÀI B

    Ngó về nhà cũ từ công đường
    Tâm sự ngổn ngang, tỉnh tựa cuồng!
    Gươm vỏ không vang, “Cờ” có ngựa
    Cá dây khó đặt (1), mồi không hương!
    Vua lo nạn ải, cầu mưu tốt
    Trời chán giặc khơi, đợi lẽ thường (2)
    Mượn đũa (3), bất tài, thẹn uống lắm!
    Cau mày xa nhớ bầu (4) xuân tuôn.


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Có một chữ “trí” là đặt, dựng, nhưng tác giả không sử dụng. Chữõ “trí” này là sự suy nghĩ đến cùng cực, là đem đến tận nơi (bờ sông, suối), không phải ung dung như người câu cá chờ thời! Chúng tôi tạm chuyển nghĩa bằng một chữ chưa đạt, chưa diễn tả hết tấm lòng nhiệt tình vì dân vì nước của tác giả. (Xem TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 487).

    (2) Nguyên văn: “tiểu khang” (xem bản dịch nghĩa bài thơ này). Tác giả lưu tâm, trân trọng niềm vui bé nhỏ của con người, hạnh phúc riêng tư của nhân dân bên cạnh niềm vui, hạnh phúc chung lớn lao của Đất nước, mặc dù thể hiện qua khát vọng của Trời. Một tấm lòng nhân đạo chu đáo!

    (3) Xem chú thích (4), (3), “... Tặng lúc lên đường...” (bài số 7). Ở bài trước, tạm dịch là “mượn bút”. Ở bài này, xin để nguyên nghĩa cho hợp với ngữ cảnh: niềm ưu tư về giặc ngoại xâm làm đắng đót cả miếng ăn, chén uống. Một nỗi ưu tư, trăn trở thường trực, khôn nguôi!

    “Một miếng ăn ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc
    Không yên lòng khi ngắm một cành hoa!”

    (Chế Lan Viên – “Người đi tìm hình của nước”: Nguyễn Ái Quốc).

    (4) Đồ đựng rượu (vỏ bầu khô). Xin tạm dùng chữ “bầu” này.

    Chùm thơ ba bài 19. 20. 21

    HỌA NHẠC ÔNG KÍ PHỎNG TAM THỦ
    NGUYÊN VẬN


    21: BÀI C

    Lạng Thái Cao Tuyên đạo lôï nan
    Kỉ phiên túc tích kiû gian quan
    Hung trung hữu giáp thùy ca Phạm
    Tọa thượng vô Ni thục biệt Nhan
    Miếu toán phương ân biên sự trọng
    Tướng trù nhược định tặc tâm hàn
    Kịch lân mạc tá tam thu trệ
    Báo lược hà tằng triển nhất ban.


    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm

    19. 20. 21

    HỌA NGUYÊN VẦN BA BÀI THƠ
    CỦA BỐ VỢ GỬI HỎI THĂM

    21: BÀI C

    Lạng, Thái, Cao, Tuyên đường khó đi
    Mấy lần lặn lội qua mấy ải
    Trong bụng có giáp binh, ai ca bài ca Phạm Lãi?
    Không có đức Khổng, lấy ai chia tay Nhan Hồi?
    Tính việc ở Triều mới lo rằng việc biên cương là trọng
    Nếu tướng tính kế xong, giặc sẽ không dám lăm le
    Khổ nỗi kẻ giúp kế trong màn, ba năm nay không có
    Tài thao lược chưa từng thi triển ra được?

    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    dịch nghĩa

    19. 20. 21

    HỌA NGUYÊN VẬN BA BÀI THƠ CỦA BỐ VỢ (1) GỬI HỎI THĂM

    21: BÀI C

    Thái [Nguyên], Lạng [Sơn], Cao [Bằng],
    Tuyên [Quang], đường, nẻo khó [đi]
    Mấy lần lặn lội [qua] mấy ải cam go
    Trong bụng có áo giáp, ai ca [khúc hát về] Phạm (2)
    Trên chỗ ngồi không có [Trọng] Ni (3), [lấy] ai biệt đãi Nhan [Hồi] (4)
    Việc tính [kế ở] Triều đình vừa mới hưng khởi, [cho rằng] việc biên giới [là] nặng nề (quan trọng)!
    Sự trù liệu [của] tướng nếu định [xong], lòng giặc sẽ sợ hãi
    Đau xót, thương tiếc quá đỗi [cho] tả tướng (5)
    (quan lớn bên cạnh vua) [tham mưu sau] màn trướng [đã] ba mùa thu [như] cặn đáy nước
    Mưu lược con báo (5) [nếu có], sao từng triển khai [quyết] một [mực] rút quân về
    (hoặc: nào đã từng thi thố một lần)?

    (1) Chưa rõ là ai.

    (2) Phạm Lãi giúp Việt vương diệt Ngô xong, về ở ẩn. Phạm Lãi từng hiến kế “thường phẩn” (nếm phân), nhẫn nhục với quân xâm lược (Ngô vương) và áp dụng chính sách mười năm quy tụ dân chúng, mười năm giáo huấn dân, (xem TĐTNTN., sđd., tr. 102). Ngoài khổ nhục kế, Phạm Lãi còn sử dụng kế mĩ nhân, dâng Tây Thi cho Ngô Phù Sai; Ngô vương say mê nhan sắc Tây Thi đến mức bỏ bê việc nước, việc quân. Cuối cùng Việt vương Câu Tiễn đánh diệt được nước Ngô (sđd., tr. 573).

    Phạm Tăng (mưu sĩ của Hạng Vũ)?

    (3) Trọng Ni: Khổng Khâu (Khổng Tử).

    (4) Nhan Hồi: học trò của Khổng Tử.

    (5) Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng Bình bị bó tay vì sự thao túng của Trần Tiễn Thành (thượng thư Bộ Binh). Trần Tiễn Thành vốn là người Minh hương (phù [Hán] Minh, bài [Mãn] Thanh), có lẽ phần nào cảm tình với bọn giặc Cờ (biến tướng của phong trào Thái bình thiên quốc, chủ trương phù Hán bài Mãn. Trần Tiễn Thành còn là kẻ chủ “hoà”, bị cuộc khởi nghĩa của Hồng Tập kết án tử hình (cùng với Phan Thanh Giản), (ĐNTL.CB., tập 30, tr. 154, 173, 286); đặc biệt từ năm 1882, y ngày càng “thân Pháp” và trở thành tay sai của Pháp. Theo cách nói của Ưng Trình, là: “... ngài Trần Tiễn Thành, tiến sĩ, phụ chánh An Nam, được giao nhiệm vụ thương lượng với nước Pháp và bị liên lụy do sự chăm lo cho quyền lợi của nước Pháp” (Những người bạn cố đô Huế [BAVH., 1919], bản dịch Đặng Như Tùng..., Nxb. Thuận Hóa - 1998, tập VI B, tr. 406). Do đó, ở thời điểm tiễu trừ bọn giặc Cờ này, Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng Bình (“Kịch liên mạc tá...”) đành thúc thủ, bởi vua Tự Đức lại rất sủng ái Trần Tiễn Thành... (“Báo lược hà tằng triển nhất ban?”). Xem thêm chú thích (5), bài số 6.

    Tuy nhiên, ở một góc độ khác, có thể hiểu câu “báo lược hà tằng triển nhất ban?” nhằm ám chỉ Phùng Tử Tài, một vị tướng của nhà Thanh. Viên họ Phùng muốn rút quân, khi đang đảm trách nhiệm vụ tiễu trừ giặc Cờ (chúng chiếm đóng, xưng hùng xưng bá ở các tỉnh biên giới nước ta, chứ không phải “tị nạn”) [xem: ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 29 - 30, 30 - 31].

    19. 20. 21

    HỌA NGUYÊN VẦN BA BÀI THƠ
    CỦA BỐ VỢ GỬI HỎI THĂM

    21: BÀI C

    Lạng, Thái, Cao, Tuyên nẻo khó đi
    Bao lần lặn lội mấy biên nguy
    Ai khen Phạm Lãi khi đầy súng!
    Đâu trọng Nhan Hồi lúc vắng Ni?
    Vừa phát kế vua, đồn ải trọng
    Nếu xong sách tướng, lòng thù suy
    Trí hùng (2), tiếc quá ba thu đọng (3)
    Beo giỏi (4), sao quân quyết rút về?!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Có thể dịch sát nghĩa (nhưng chưa đạt ý và chỉ đối chéo):

    Lòng đầy binh giáp, ai ca Phạm?
    Chiếu vắng Khổng Khâu, Nhan giã gì!


    (2) Khi dùng từ “trí hùng”, người biên soạn nghĩ đến Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng Bình (Võ Trọng Bình), lúc còn là đại thần Viện Cơ mật, thượng thư Bộ Binh. Nguyên văn chỉ viết là “mạc tá” (người giúp kế trong màn trướng [:triều đình]).

    (3) Nguyễn Tri Phương bị thúc thủ (xem lại chú thích (5) ở bản dịch nghĩa bài này). Nguyên văn chữ cuối câu này là “trệ” (ứ lại, không thông; đọng), mặt chữ Hán có khác với chữ “trể” (cặn đọng đáy nước).

    (4) Trần Tiễn Thành? Phùng Tử Tài?



    Bài 22

    CỬU NGUYỆT NGỘ HÚY CẢM TÁC


    Thu tiêu sắt sắt lậu canh trường
    Lữ xá cô đăng dạ khí lương
    Trùng trập vô thanh kinh vãn hậu
    Giản hoàng hà xứ chú dư hương
    Tựu miên cầu kiến nan thành mộng
    Đãi đán thư hoài bách trụy sương
    Viễn khách ứng đa phong thụ cảm
    Huống kinh sổ nẫm trệ nhung trường.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    22

    THÁNG CHÍN,
    GẶP NGÀY HÚY CẢM TÁC

    Gió thu hiu hắt khắc canh chầy
    Quán khách đèn côi đêm lạnh thay
    Giun dế không kêu, kinh tiết muộn
    Hương thừa lan tỏa, suối khe này
    Ngủ mong nằm thấy, khôn thành mộng
    Chờ sáng khuây sầu, buộc móc đầy
    Viễn khách cảm hoài cây trước gió
    Huống bao năm tháng chiến trường đây.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    22

    THÁNG CHÍN,
    GẶP [NGÀY] GIỖ [VỢ], CẢM TÁC

    Gió mạnh mùa thu thê thiết, [đồng hồ] nhỏ giọt (1) [suốt từng] canh (2) dài
    Quán khách, đèn lẻ loi, khí đêm lạnh lẽo
    [Các] loài côn trùng ẩn trốn [cùng] sâu bọ [đều] không tiếng [kêu], trải qua niềm hi vọng (hoặc: thời tiết) muộn mằn
    [Những] khe núi, hào rãnh quanh thành khô cạn, [từ] nơi đâu, [vẫn] rót vào làn hương sót lại [của mùa hoa trước]
    Vào giấc ngủ, mong [được] thấy [nàng], [nhưng] khó thành giấc mộng
    Chờ sáng sớm, khuây nguôi nỗi nhớ, [sao vòm trời] buộc làn sương trĩu xuống [la đà]!
    Người lính phương xa (3) cảm ứng [với] cảm xúc [của] cây cối lắm gió
    Huống chi [đã] trải qua nhiều năm (chất chứa) [nỗi niềm], [giữa] chiến trường trì đọng!

    (1) Loại đồng hồ cũ, đo lường thời gian bằng nước trong bình (hoặc bằng cát). Bình có vạch chỉ mức; nước (hoặc cát) nhỏ giọt (rơi) đều đặn. Xem thêm bị chú.

    (2) Đêm tính bằng canh (“Đêm năm canh, ngày sáu khắc”).

    (3) Dịch từ hai chữ “viễn khách” (khách: người; viễn: [ở] phương xa), tương tự như “lữ khách” (người đi xa), “chinh nhân”, “chinh phu” (người [đàn ông hoặc chồng] chiến đấu phương xa).

    22

    THÁNG CHÍN,
    GẶP TÊN NGƯỜI ĐÃ MẤT, CẢM TÁC

    Gió thu thê thiết, giọt canh dài
    Quán khách, đèn côi, đêm lạnh thay
    Không tiếng dế giun, hi vọng – muộn (1)
    Đâu nơi mương suối, dư hương – đầy
    Mong đêm (2), vào giấc, mộng thành khó
    Chờ sáng, khuây sầu, sương trĩu dày
    Viễn khách cảm niềm cây lắm gió
    Huống bao năm nghẹn chiến trường đây!


    (bản biên soạn)

    (1) Hậu: hi vọng, chờ; khí tiết (thời tiết); tình trạng sự vật (TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 353). Có lẽ tác giả có một người yêu (người vợ?) mất tích (vì đi đường biển, đi đường rừng...), chưa rõ sống, chết. Tác giả mãi đợi chờ và lấy vợ muộn (xem bài số 14: “Được tin sinh cháu nội đầu”). Cũng do vậy, lúc này (căn cứ vào văn cảnh), có lẽ tác giả đang lặng lẽ cam chịu nỗi mất mát ấy với một niềm hi vọng muộn màng, gần như vô vọng (mặc dù đã có vợ con...).

    Có thể cảm nhận lại từ “viễn khách” để rõ hơn nỗi niềm của tác giả.

    Hồ Dzếnh có đoạn thơ trong bài "Chiều" nổi tiếng:

    “Tôi là người lữ khách (# viễn khách)
    Màu chiều khó làm khuây!
    Ngỡ lòng mình là rừng
    Ngỡ lòng mình là mây
    Nhớ nhà châm điếu thuốc
    Khói chiều bay lên cây”.


    Rõ ràng với văn cảnh này, “nhà” ở đây là gia đình riêng, hoặc “nhà” là vợ; nhưng cũng có thể Hồ Dzếnh đang tự xưng “tôi” (ngôi thứ nhất) trong khoảnh khắc thì thầm tâm sự với người tình yêu dấu nào đó (ngôi thứ hai, ngang trang lứa) về nỗi “nhớ nhà” (gia đình lớn, song thân) của mình. Tuy nhiên, sắc thái nỗi nhớ cùng sắc thái các hình ảnh gợi nhớ trong bài Chiều, khiến người đọc vẫn cảm nhận đó là nỗi nhớ về gia đình riêng, nỗi nhớ về người vợ (“nhà”) ở quê hương.

    Đúng là chỉ có quan hệ ngang trang lứa mới tự xưng như vậy. Chính từ “viễn khách” này đã xác định rõ rệt hơn quan hệ giữa tác giả và người đã mất là quan hệ vợ chồng, quan hệ hứa hôn hoặc yêu đương chung thuỷ.

    Trên đây chỉ là cảm nhận do không khí của bài thơ. Hiện chúng tôi chưa có tư liệu nào về nỗi niềm riêng tư này.

    (2) Nguyên văn: “cầu kiến” (mong thấy).



    Bài 23

    KÍ BANG BIỆN QUÂN VỤ VŨ


    Ưu quốc vị thành song mấn bạch
    Tranh thần (thời) vô nại nhất thiên thương
    Bất tài huống thả phùng đa sự
    Ngạnh đoản tiên trường chỉ tự thương.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    23

    GỞI BANG BIỆN QUÂN VỤ HỌ VÕ

    Lo nước chưa xong đầu đã bạc
    Tranh thời chẳng được, một trời sâu
    Không tài lại gặp lúc đa sự
    Cành ngắn roi dài chỉ tự đau!


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    23

    GỬI BANG BIỆN QUÂN VỤ HỌ VŨ (VÕ) (1)

    Lo toan việc nước (2), chưa xong, hai mái tóc [đã] bạc
    Giành giật thời gian (: tranh thủ tâm trí [giặc]) chẳng [làm sao] được; một bầu trời [vô tình vẫn] xanh!
    Không tài năng, phương chi [còn] thư thả (3), [lại] gặp [lúc] lắm việc (rối chuyện)
    Cành ngắn roi dài, chỉ tự làm đau (tổn thương)
    [mình]! (4)

    (1) Vũ Trọng Bình, nguyên là thượng thư Bộ Lại, Cơ mật viện đại thần, hiệp biệp đại học sĩ, có tính tình thẳng thắn, đức liêm khiết nổi tiếng. Ông cùng Nguyễn Tri Phương (thượng thư Bộ Binh) đấu tranh với nhóm Trần Tiễn Thành, nhưng nhóm Trần Tiễn Thành hầu như được Tự Đức ủng hộ. Do đó, ông rồi Nguyễn Tri Phương đều phải ra mặt trận phía Bắc. Lúc Nguyễn Văn Tường sáng tác bài này, hẳn là sau khi Vũ Trọng Bình cùng ông bị giáng chức, chịu án trảm giam hậu (tội bị chém nhưng cho chịu giam giữ để xét lại), do để thất thủ thành Lạng Sơn. Tuy vậy, lại được Tự Đức xóa án, vẫn cho giữ chức tham mưu, không nắm thực quyền (bang biện, tán lí). (Xem ĐNTL.CB., tập 32, tr. 61 - 63, 70 - 72).

    (2) “Ưu quốc”: chăm lo cho Đất nước. Chữ của sách Hán thư: “Luận nghị cổ thông kim, ưu quốc như cơ khát giả, thần vị kiến giả” (Bàn luận, thông hiểu việc xưa, việc nay, lo lắng cho Đất nước như đói khát, kẻ bề tôi này chưa từng thấy vậy), [TĐTNTN., sđd., tr. 737].

    (3) Nguyên văn: “thả” (còn đọc là “thư”): chậm rãi, thư thả. Nếu đi với chữ “cẩu” (có nghĩa là sơ sài, không cẩn thận), thành từ ghép “cẩu thả”, nghĩa có phần nặng hơn (tắc trách, qua loa, buông thả, không hợp với đạo nghĩa Nho giáo là luôn giữ mình như đại thần phải cầm hốt có gương soi khi chầu triều...).

    Tuy nhiên, chữ “huống” (có bộ thủy ở bên trái) đi liền với chữ “thả”, thành liên từ ghép “huống thả” với nghĩa là “phương chi”, “huống nữa”. Bản dịch bài này của Trần Đại Vinh, không dịch “thả” là “thư thả”...

    [Xem: Thiều Chửu, Hán – Việt từ điển, Nxb. TP. HCM. tái bản, 1999, các tr.: 3, 12, 336].

    (4) Một cách nói cay đắng nhất thời, ngầm ý phê phán sự “rối việc”, “loạn việc” (chữ “loạn” xứ Huế...) của thời thế, cũng là lời tự phê gay gắt trong tình thân bạn bè.


    23

    GỬI BANG BIỆN QUÂN VỤ
    VŨ TRỌNG BÌNH (VÕ TRỌNG BÌNH)

    Chưa xong việc nước, hai đầu bạc
    Khó níu ngày trời một sắc xanh!
    Cạn trí, huống chi, thời lắm rối
    Ngắn dài tự quất vết roi cành!


    (bản biên soạn 23/1)

    Lo nước chưa xong, đầu bạc uá (1)
    Giành tâm, không nén, trời hoa râm (2)!
    Bất tài, lại gặp bời bời việc
    Cành ngắn roi dài, tự xót thầm!


    (bản biên soạn 23/2)

    (1) Hai câu đầu gợi nhớ đến bài “Thuật hoài” của Đặng Dung (thời Hậu Trần):

    “Thế sự du du nại lão hà
    Vô cùng thiên địa nhập hàm ca...
    ... Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
    Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma”.

    Việc nước rối bời, già được sao!
    Khúc say, trời rộng cũng đong vào...
    ... Chưa đền nợ nước, đầu hoen bạc
    Mấy độ gươm mài, bóng nguyệt cao.


    [Hàm (còn đọc là “cam”): say rượu ngà ngà].

    (2) “Thương”, còn có nghĩa là [tóc] hoa râm.



    Bài 24

    HỌA THỐNG ĐỐC HOÀNG ĐẠI NHÂN
    VỊNH QUÂN TRUNG THỦY TIÊN
    NGUYÊN VẬN


    Mỗi ức hoa gian trạc dị anh
    Ngãi bồng phi cức cửu kinh dinh
    Độc tương thanh bạch di y mĩ
    Tằng duyệt phân ai bảo thử trinh
    Cộâng ngã du quan trang lữ thú
    Liên cừ liễu mạch hệ khuê tình
    Linh căn bão đắc băng hồ tĩnh
    Thùy tín Hằng Nga thố xứ sinh!


    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    phiên âm

    24

    HỌA NGUYÊN VẦN BÀI VỊNH HOA THỦY TIÊN TRONG QUÂN LỮ CỦA THỐNG ĐỐC ĐẠI NHÂN HỌ HOÀNG

    Thường nhớ đến vẻ đẹp lạ kì trội lên giữa muôn hoa
    Dọn dẹp cỏ rối và gai góc, toan tính rất lâu
    Một mình đem tặng vẻ đẹp thanh bạch ấy
    Từng giữ lòng trong trắng trải qua nơi bụi bặm
    Cùng ta mang mối tình quê đến trại đóng quân
    Thương ngươi buộc mối tình khuê phòng bên bờ liễu
    Gốc rễ tinh khôn ôm lấy bình nước trong sạch yên tĩnh
    Ai tin rằng Hằng Nga sinh nhầm chỗ!

    VŨ ĐỨC SAO BIỂN
    dịch nghĩa
    24

    HỌA NGUYÊN VẦN BÀI “VỊNH HỌA THỦY TIÊN TRONG QUÂN LỮ” CỦA THỐNG ĐỐC HOÀNG ĐẠI NHÂN (1)

    Thường nhớ giữa cõi hoa (thế giới các loài hoa), vút lên (trỗi vượt) [một] vẻ đẹp kì lạ
    Cắt cỏ, dọn gai, trải qua toan tính lâu dài
    Một mình đem sự thanh bạch [để] tặng cái đẹp ấy
    Nhiều đợt trải qua bụi bặm, hơi sương, [vẫn] giữ lòng trinh trắng này
    Chung [lòng với] ta [tới] cửa ải [giữa rừng] cây du (2),
    trang hoàng cho [thêm] sự ý vị của lính thú xa quê
    Thương ai [buộc quanh ở] bờ liễu (2), [như thể] treo [lên] mối tình phòng the [của người vợ]!
    Gốc rễ linh diệu ôm lấy bình nước trong sạch [một cách] yên tĩnh
    (hoặc: ôm lấy sự trong sạch, tĩnh tại)
    Ai tin [rằng] Hằng Nga (3) nhầm chỗ [mà] ra đời!

    (1) Hoàng Tá Viêm (ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 94...).

    (2) Du là một loài cây mọc ở rừng sâu, lá có hình mũi giáo, quả có cánh, cùng họ với cây gỗ sến. “Du quan”, nghĩa bóng là cửa ải chốn rừng sâu. [Xem HVTĐ., sđd., tr. 304; TĐTV., sđd., tr. 256].

    Theo Bửu Kế, Từ điển từ ngữ tầm nguyên, sđd., tr. 376, hai chữ “liễu mạch” (nguyên nghĩa: cây liễu ở đường bờ ruộng) có nghĩa sử dụng gần như “liễu hạng hoa nha” (“liễu ngõ hoa tường”). Chúng tôi thấy nghĩa đó không phù hợp với văn cảnh, tứ thơ toàn bài? Trường hợp này, nếu ép theo nghĩa ở TĐTNTN. vào văn cảnh, tứ thơ này, lại là sự phê phán “lầu xanh”, “trăng gió”, “trên bộc trong dâu”...

    Do đó, tác giả dùng chữ “liên”, với nghĩa là “thương tiếc” (thương xót và tiếc nuối), [TĐHV., tập thượng, sđd., tr. 504; HVTĐ., sđd., tr. 212 - 213).

    Tuy vậy, chúng tôi vẫn hiểu theo nghĩa rất thanh cao và cảm động theo văn ngữ cảnh của toàn bài.

    (3) Hằng Nga (vẻ đẹp vĩnh hằng): tên do các nhà thơ đặt cho mặt trăng, cũng là tên ở các truyện cổ dân gian. Đây chỉ là biểu tượng, chỉ hoa thủy tiên. Hoa thủy tiên vừa là biểu tượng của cái đẹp nói chung, gồm cả nhan sắc, tài năng xuất chúng và phẩm hạnh vượt trội (“dị anh”). Chú thích của Những khúc ngâm chọn lọc, tập I (Lương Văn Đang, Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Lộc giới thiệu, biên khảo, chú giải), Nxb. ĐH. và THCN., 1987, tr. 119: “Hằng Nga còn gọi là Thường Nga, vợ Hậu Nghệ, đời vua Hoàng Đế. Hậu Nghệ được bà Tây Vương Mẫu cho thuốc trường sinh nhưng Hằng Nga đã lấy trộm để uống, rồi bay lên cung trăng”.

    24

    “NGỢI CA HOA THỦY TIÊN
    TRONG QUÂN LỮ”

    Họa thơ Hoàng Tá Viêm

    Nhớ hoài hoa lạ trội muôn hoa
    Gai cỏ nhặt gom, lo liệu xa
    Sương biếc (1) một đem trao sắc ngọc
    Bụi mù mấy trải, giữ trinh ngà (2)
    Ải du, cùng mỗ (3), trau niềm lính
    Bờ liễu, thương ai, gác nỗi nhà (4)?
    Ôm tĩnh rễ tinh, bình nước sạch
    Ai tin nhầm chỗ Hằng sinh ra!


    TRẦN XUÂN AN
    chuyển lại thơ

    (1) Nguyên văn là “thanh bạch”, có nguyên nghĩa là trong trắng; nghĩa tiếng Việt thông dụng: [nếp sống] giản dị, liêm khiết, không bị cám dỗ bởi sự giàu sang. Tạm dùng một hình ảnh để thay thế nguyên nghĩa: “sương biếc”.

    (2) Nguyên văn: y mĩ (cái đẹp kia); thử trinh (cái trinh trắng này). “Sắc ngọc”, “trinh ngà” là các chữ tạm dịch thoát.

    (3) “Mỗ”: mình, tôi, tớ, qua, choa… “Mỗ” là đại từ ngôi thứ nhất; chỉ trổng một cách khiêm tốn.

    (4) Nếu dịch thoát, hai câu luận sẽ là:

    Theo ta đến ải, trau niềm lính
    Thương ấy treo thành, máng chuyện nhà.


    Bài 25

    ĐÔNG DẠ HỮU CẢM


    Phong vũ tiêu tiêu dạ lậu tần
    Hàn đăng độc tọa giác lao thần
    Sơn minh cốc hưởng truyền tiêu tức
    Kê xướng dăng thanh hỗn tự chân
    Tuế mộ bất tu sầu ảm đạm
    Canh thâm thùy vị đạo ưu cần
    Điểm trang đắc dữ đông hoàng tá
    Phục đán khai tường sắc dạng tân.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    25

    CẢM XÚC ĐÊM ĐÔNG

    Mưa gió đìu hiu đêm đã chầy
    Riêng ngồi đèn lạnh tổn thần thay
    Núi vang hang gọi truyền tin tức
    Gà gáy ruồi kêu thực lẫn say
    Năm hết đâu cần buồn ảm đạm
    Canh khuya ai trọng đạo lo đây?
    Điểm trong cảnh sắc đông hoàng giúp
    Sáng mở tốt lành, tươi mới thay!


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    25

    ĐÊM ĐÔNG, CÓ [: GỢI NIỀM] CẢM XÚC

    Gió mưa đìu hiu, giọt [đồng hồ] đêm [ngỡ như] gấp gáp [để cạn]
    Đèn lạnh, ngồi một mình, cảm thấy tinh thần mỏi mệt
    Núi vang [tiếng], hang núi vọng lại, truyền tin tức [chiến trường]
    Gà gáy ruồi kêu, sự thật (thực tế) lẫn lộn [với] cái giông giống sự thật (thực tế)
    Năm tàn đâu nên buồn rầu [về] sự tối tăm, nhạt nhẽo
    Canh (1) sâu ai giúp khai mở (thuyết giáo) [về] lòng lo nghĩ, siêng năng [việc nước]
    Điểm tô [đất trời], được cùng với vị chúa mùa xuân (2) giúp đỡ
    Buổi sáng mai lại trở về, mở ra sự tốt lành, dáng sắc [tươi] mới!

    (1) Canh: mỗi quãng thời gian cố định về đêm, đơn vị tính thời gian (“Đêm năm canh...”).
    (2) Đông hoàng: vị vua (thần) hướng đông (thần mùa xuân).

    25

    ĐÊM ĐÔNG, CẢM XÚC

    Mưa gió đìu hiu giọt cát đầy
    Riêng ngồi, đèn lạnh, hồn hao gầy
    Núi vang, hang vọng, tin truyền tức
    Gà gáy, ruồi reo, thực lẫn say
    Năm cạn, đâu nên lòng sầu héo
    Khuya sâu, ai liệu sách bừng khai (1)?
    Thần phương đông giúp tô trời đất
    Sáng mở tốt lành, tươi sắc thay!


    (bản biên soạn)

    (1) Nguyên văn: Đạo Học, Đạo Nho (đạo học trò). Có thể hiểu theo trình độ xã hội hiện đại là Đạo Giáo dục. Xin xem thêm câu này ở bản dịch nghĩa.

    Bài 26

    ĐỒ TIẾP THANH QUAN


    Y thùy cấu đắc miếu lang ưu
    Tam tứ niên lai tâm sự du
    Xa mã thử hành chiêu vật độ
    Thử hồ hà nhật tức khuy thu (du)
    Thao trù nhược định vô tha trở
    Vi (vị) đức đương chung khởi ngoại cầu
    Mộc dĩ viên phần hưu quái hận
    Việt đồng Tần thị cánh (canh) hà vưu.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    26

    GIỮA ĐƯỜNG
    ĐÓN TIẾP QUAN NƯỚC THANH

    Miếu đường dựng tốt cùng ai chăng?
    Ba, bốn năm nay lòng ngổn ngang
    Xe ngựa lần này soi tỏ vật
    Chuột chồn bao thuở hết moi hàng?
    Lo toan đã định không gì cản
    Vì đức tới cùng há “ngoại” tham!
    Đốt vượn nguy cây, thôi ghét hận
    Sao cùng oán mãi? Việt như Tần!


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    26

    GIỮA ĐƯỜNG
    ĐÓN TIẾP QUAN NƯỚC THANH

    Ai kia làm việc được tốt triều đình (1)?
    Ba, bốn năm qua tâm sự [người thương thuyết] rối bời (ngổn ngang)
    Xe ngựa chuyến đi này, [phải] soi rọi, bày rõ [các] vật giúp (đồ tài trợ)
    Chuột chồn ngày nào [sẽ bị] dập tắt [những cuộc] liếc rình chở trộm (cướp bóc)?
    Liệu tính kế sách quân binh, nếu [đã] ổn [thì] không ai ngăn trở [nổi]
    Tạo nên đức nghiệp [để] cùng chung gánh vác, [quân nhà
    Thanh các bạn] há [là] giặc ngoại xâm tham lam!
    (hoặc: Vì đức đến cùng, há cầu bên ngoài?)
    Cây cối vốn có đốt vượn [đã bấu vào] (2), thôi đừng hận [vì] sự đơm đặt (nói xấu)
    Nước Việt cũng như nước Tần (3), nên (hoặc: thấy lại thêm)
    oán hận sao?

    (1) Xem hai chú thích (2), (2) ở hai bản dịch nghĩa, bài 1 và bài 4. Quân nhà Thanh sang nước ta để cùng tiêu diệt bọn giặc Cờ (tàn quân Thái Bình Thiên Quốc). Do vấn đề tế nhị là xung đột dân tộc (Mãn với Hán), triều Nguyễn phải bao cấp cho quân Thanh để quân Thanh tiêu diệt giặc Cờ. Trong nhân dân Việt Nam có luồng dư luận không thiện cảm và nghi ngại về quân Thanh (mượn cớ để xâm lược nước ta). Tướng Phùng Tử Tài của nhà Thanh có lần đòi rút quân về trong khi giặc Cờ chưa dẹp hết... (xem ĐNTL.CB., tập 31, tr. 383 - 384...). Chữ “cấu” trong trong nguyên bản còn có nghĩa “gây chuyện”.

    (2) Trong thực tế lịch sử, không phải ở thời điểm này, mà sau khi Hà Nội thất thủ lần thứ hai (1882), quân Thanh đáp ứng lời cầu viện, lại kéo quân sang. Ở lần sau (1882 - 1885), tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Thụ Thanh đã bộc lộ âm mưu xâm lược trong tờ mật sớ tâu với vua Thanh: “Nước Nam với nước Tàu tiếp giáp với nhau mà thế lực nước Nam thật là suy hèn, không có thể tự chủ được nữa, vậy ta nên mượn tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ ở các tỉnh thượng du. Đợi khi có biến thì ta chiếm lấy những tỉnh ở về phía bắc sông Hồng Hà” [Trần Trọng kim lược dịch; xem TTK., VNSL., sđd., tr. 529 (bản 1964), tr. 558 (bản 1999)]. Lần này, có cả Từ Diên Húc!

    Lúc bấy giờ, Nguyễn Văn Tường và Triều đình nhà Nguyễn hẳn thừa biết, nhưng vẫn tiến hành chính sách ngoại giao đối trọng, để Pháp – Tàu bắn nhau, Việt Nam sẽ thừa cơ giữ vững độc lập, giành lại Nam Kì [xem KYHNKH., ĐHSP. TP. HCM., sđd., bài của Gs. Nguyễn Văn Kiệm, tr. 8 - 9]. Nỗi đau lịch sử của hai nước láng giềng cứ lặp đi lặp lại mãi! [Xem tư liệu trực tiếp: ĐNTL. CB., tập 36, sđd., tr. 91, về chính sách ngoại giao đối trọng: trung lập giữa Pháp và Hoa].

    Nhưng đấy là chuyện mười mấy năm sau. Nguyễn Văn Tường sáng tác bài thơ này trong thời điểm trước đó, 1868 - 1873.

    (3) Đốt cây có bàn tay vượn bấu vào bị xem là xấu, dễ mọt (?). Có lẽ tác giả vận dụng điển cố “vượn Sở”: vượn của nước Sở. Điển ấy từ câu: “Sở quốc vong viên, họa diên lâm mộc” (nước Sở mất vượn, họa đến các cây trong rừng [vì phải chặt cây để bắt vượn!]). Nghĩa bóng: mộât mối họa tự dưng lây đến nhiều người, nhiều trường hợp khác (TĐTNTN., sđd., tr.758). Ở đây, do một đốt cây bị tay vượn bấu vào, mà phải đốn cả cây, cả khu rừng, vì đó là dấu vết có vượn lẫn trốn trên cây ấy, trong rừng ấy (vượn rất khỏe; cây lớn, sum suê che khuất). Tất nhiên cũng phải hiểu nghĩa bóng.

    (4) Ý tác giả Nguyễn Văn Tường: Việt Nam muốn thống nhất đất nước, không muốn bị cát cứ (như nhà Tần thống nhất Trung Hoa). Người ta cũng thường dùng thành ngữ “Tần phì Việt sấu” (người Tần béo, người Việt gầy), hoăïc chỉ nói gọn là “Tần Việt”, để chỉ sự xa cách về không gian (hai nước này thuộc thời Xuân Thu bên Trung Hoa), sự khác biệt nhau về dân tộc. Nếu với nghĩa thứ hai, Nguyễn văn Tường muốn chỉ rõ sự đồng nhất về tính người (nhân loại tính), ấy là khát vọng về độc lập, tự do, hạnh phúc và hòa bình. Tính nhân loại ở đây là tính đồng nhất, mặc cho sự khác biệt về dân tộc, địa bàn sinh tụ đến mức nào. [Xem TĐHV., tập hạ, sđd., tr. 250].

    26

    GIỮA ĐƯỜNG,
    ĐÓN TIẾP QUAN NƯỚC THANH

    Ai kia xong việc, vững triều ngay?
    Lòng ngổn ngang ba, bốn Tết nay
    Xe ngựa, đây lần soi vật giúp
    Chuột chồn, nào dịp tắt gian gây?
    Phác đồ, định hẳn, không người cản
    Tạo đức, gánh cùng, há bạn dây (1)?
    Đốt vượn hoạ cây, thôi buộc hận
    Việt như Tần, chớ oán thêm hoài!

    (bản biên soạn)

    (1) Dây dướng, dây dưa, dây [vào]...

    7. NGUYEN VAN TUONG (1824 - 1886) -- THO -- VAI NET VE CON NGUOI, TAM HON & TU TUONG / Tệp 7

    PHẦN THỨ BA:

    THI TẬP


    Bài 1

    SƠ ĐÁO LẠNG SƠN



    1. Khứ tuế Gia Định nam (*)
    Kim niên Lạng Sơn bắc
    Tây nhân kí chỉnh cư
    Ngô đoàn diệc khổng cức
    5. Thuyền pháo nan để đương
    Lam chướng dị kinh hoặc
    Tòng lai chư duyên biên
    Vô như thử kiệt tặc
    Bất chiến tịch dư oai
    10. Xuất sư hữu hà lực
    Tuy nhiên lang tử tâm
    Khởi nghi ngọa tháp trắc
    Ngô bối sỉ tố xan
    Hà nhân đương nhục thực
    15. Nguyện tương dữ đồ hồi
    Hạnh vật đạo cô tức
    Thiền uyên thất độ hà
    Thằng trì tư phấn dực
    Tư mã sá binh nhung
    20. Thái tể thận cống chức
    Tỉnh tuế lũ phong đăng
    Quan binh đồng tâm đức
    Cẩu túc đa tất thành
    Thử chúng chiến tắc khắc
    25. Tận diệt bỉ cừ khôi
    Vô ô ngã viên bức
    Dị loại tuyệt tanh (tinh) chiên
    Lưỡng kì đồng quách thức
    Duy thiên tác Nam bang
    30. Chúng tinh củng thần cực
    Khể thủ bái vạn niên
    32. Vương hiến (du) ca doãn tắc.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    1

    LẦN ĐẦU ĐẾN LẠNG SƠN

    1. Năm ngoái Gia Định nam
    Năm nay Lạng Sơn bắc
    Bọn Tây đã chễm chệ
    Lính Tàu cũng nguy cấp
    5. Thuyền súng khó cự đương
    Lam chướng dễ kinh sợ
    Từ đó các vùng biên
    Không đâu như nghịch tặc
    Chẳng đánh, mượn oai thừa
    10. Ra quân đâu có sức
    Tuy nhiên lòng chó sói
    Há để kề bên hông
    Bọn ta thẹn ngồi không
    Kẻ nào xứng ăn thịt
    15. Nguyện cùng nhau lo toan
    May dân khỏi bức bách
    Vực sâu khó qua sông
    Ao trời lo sải cánh
    Tư Mã thuận binh nhung
    20. Tể tướng thận tuyển cử
    Xem xét năm được mùa
    Nhìn lính cùng tâm đức
    Nếu lúa nhiều ắt xong
    Lính ấy đánh tất thắng
    25. Diệt hết lũ cừ khôi
    Khỏi ô uế bờ cõi
    Diệt loài tanh khác tộc
    Nam Bắc cùng một mối
    Nhờ trời dựng nước Nam
    30. Muôn sao chầu Tử cực
    Cúi đầu chúc muôn năm
    32. Ngợi đức vua thông suốt.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    1

    LẦN ĐẦU TIÊN ĐẾN LẠNG SƠN

    1. Năm ngoái [vào] Gia Định [ở phía] nam
    Năm nay [ra] Lạng Sơn [ở phía] bắc
    Người Tây đã xong việc cướp đất (1)
    Đoàn lính Ngô (2) cũng [đã] luồn thông gai góc (2)
    5. Thuyền, [súng] pháo [lớn của ta] khó chống lại,
    đương đầu
    [Bởi] sương núi khí độc dễ [tạo thêm] nỗi e ngại
    [và] sự mờ lấp
    Cứ theo những việc đã qua thì các vùng ven [biển],
    dọc các ải [núi]
    Không [bọn giặc nào] như bọn giặc hung ác này
    [Chúng] không đánh, [chỉ] mượn oai thừa
    [của bọn Tây]
    10. Ra quân, [chúng] nào có sức
    Tuy nhiên, lòng chó sói quyết chết
    [bởi ở thế cùng đường của chúng]
    Chẳng lẽ [chúng] xứng đáng nằm
    [trên] giường hẹp [thường được treo]
    nghiêng [để dành tiếp khách quý] (3)?
    Bọn ta xấu hổ [vì được ăn] cơm trắng [không độn]
    [Còn] kẻ nào xứng đáng [với] thức ăn
    [là] thịt [kia nữa]!
    15. [Hãy] nguyện cùng nhau vạch kế sách
    thu hồi [đất đai]
    Tốt đẹp [là] đừng khiến đạo lí [bị] lẻ loi
    [và bị] tiêu diệt mất
    Vực [có tên là] Thiền [giữa dòng],
    [chúng] hết [đường] qua sông
    Ao [mang địa danh là] Thằng, [ta] lo làm mạnh cánh [bay]
    Tư mã (4) phô trương (5) [lực lượng] quân đội
    20. Thái tể (6) cân nhắc [trong việc] tiến cử,
    đề bạt [quan chức]
    Xét năm [nay] nhiều lần được mùa [lúa, khoai]
    Thấy lính tráng [cùng các quan] đồng tâm đức
    Nếu [thóc gạo] đầy đủ, dồi dào ắt đánh thắng
    [Thì] lính ấy chiến đấu tất trị được [giặc]
    25. [Phải] diệt sạch những tên cầm đầu ấy
    [Để] khỏi ô uế ruộng vườn, bờ cõi [của] ta
    [Đối với] bọn khác loài [Tây, Tàu xâm lược],
    [phải] làm tiệt mùi tanh của dê,
    cừu [ở chúng]
    Hai kì (tả kì: Nam; hữu kì: Bắc)
    cùng ý chí [và] cùng biên cương, thành trì
    [Mong] vì [lẽ] Trời [mà] xây dựng nước [Việt] Nam (7)
    30. Đông đảo ngôi sao [chầu] xoay quanh ngôi báu,
    kinh vua
    [Những ngôi sao ấy] cúi đầu, bái lễ vạn năm (8)
    32. Mưu lược [của] nhà vua hát ca [về] biên cương
    vững chãi [một cách] chính đáng (tin cậy).

    (1) Chỉnh cư: chiếm lấy mà ở; giặc chiếm ở đất mình (Đào Duy Anh, Từ điển Hán – Việt, bản in lần thứ ba, Nxb. Trường Thi, Sài Gòn, 1957, tập thượng, tr. 175).

    (2) Ngô: (từ chỉ chung người Tàu). Ngô đoàn, chỉ các đoàn quân phỉ vốn là tàn quân Thái Bình Thiên Quốc tràn sang nước ta, còn gọi là giặc Cờ (Đen, Vàng, Trắng). Pháp chỉ đạo Jean Dupuis, Puginier lợi dụng giặc này, hỗ trợ súng đạn cho bọn chúng để quấy rối Bắc Kì nước ta. Câu thơ còn chỉ chung về các triều đại phong kiến Trung Hoa: giặc Tàu đã nhiều lần chiếm cứ nước ta, như hiện nay ở sáu tỉnh Nam Kì (sau 1867), giặc Pháp đang “chỉnh cư”! (Xem chú thích (2) bản dịch nghĩa bài thơ số 4).

    (3) Tác giả sử dụng điển tích cổ (sau đó Nguyễn Khuyến có dùng trong bài “Khóc Dương Khuê”: “... Giường kia treo cũng hững hờ...”). Theo điển tích đó, có một danh sĩ xưa, treo riêng một chiếc giường, đợi khi bạn quý đến mới hạ xuống để tiếp bạn, nhằm bày tỏ lòng quý trọng, ưu ái; về sau, bạn quý ấy mất, danh sĩ kia liền chẻ giường, như Bá Nha đập vỡ đàn khi Tử Kì không còn nữa (Nguyễn Khuyến: “... Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn...”).

    (4), (6) Tư mã, thái tể là hai chức không có dưới triều Nguyễn. Tác giả nhằm chỉ đến thượng thư Bộ Binh, thượng thư Bộ Lại, thường kiêm Cơ mật viện đại thần.

    (5) Thượng thư Bộ Binh (7 âm lịch Kỉ tị, 1869) là Trần Tiễn Thành. Trước đó, Trần Tiễn Thành đã được sung làm khâm sai ra Bắc (ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 164 - 165). Chữ “sá” này có nghĩa: phô trương, thị uy; không phải “thét” [lệnh]. Lúc này, Trần Tiễn Thành chưa lộ hẳn bản chất!

    (7) Hẳn nhắc đến bài thơ “Thần” của Lí Thường Kiệt (xem VNSL., b. 1964, sđd., tr. 108).

    (8) Về hai chữ “vạn niên”, xin xem thêm chi tiết b’ cuối chú thích (16) bản dịch nghĩa, bài thơ số 56.

    1

    LẦN ĐẦU ĐẾN LẠNG SƠN

    1. Năm ngoái Gia Định nam
    Năm nay Lạng Sơn bắc
    Tây chễm chệ cướp đất
    Gai góc giặc Cờ bươn
    5. Súng, thuyền chống, khó đương
    Lam chướng, dễ mờ lấp
    Từ đấy, các vùng biên
    Giặc ấy quả lạ khác! (1)
    Chẳng đánh, mượn oai thừa
    10. Ra quân, chúng đuối sức
    Nhưng lòng sói quyết chết
    Há nằm giường sẵn dành?
    Bọn ra thẹn trắng cơm (2)
    Kẻ nào xứng chén thịt
    15. Nguyện cùng lo thu đất
    May đạo lí khỏi tan
    Vực Thiền, hết qua sông
    Đầm Thằng, lo cánh vút
    Bộ thị uy binh nhung
    20. Viện tiến cử cân nhắc
    Xét năm được nhiều mùa
    Nhìn lính cùng tâm đức
    Nếu thóc nhiều tất xong
    Lính ấy đánh phải được
    25. Diệt sạch lũ cầm đầu
    Khỏi ô uế Đất Nước
    Tiệt cừu tanh khác loài
    Cùng một mối Nam Bắc
    Vì lẽ trời, dựng Việt
    30. Ngôi báu, muôn sao chầu:
    Cúi đầu, lạy vạn năm
    32. Biên vững, trí vua hát.


    (bản biên soạn)

    (1) Nguyên bản: “Không nơi đâu có bọn giặc hung tợn như thế”.

    (2) Xấu hổ với người ăn cơm hẩm gạo mốc (người dân).


    Cước chú của bài thơ số 1, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*) Các bài dài, chúng tôi (TXA. [người biên soạn, viết tắt: nbs.]) tạm đánh số thứ tự các dòng thơ để tiện đối chiếu (không phải phân đoạn).


    Bài 2

    HỌA LẠNG VŨ (PHỦ) ĐẶNG
    VỊNH CÚC
    NGUYÊN VẬN


    Tiểu xuân mai vị báo
    Li hạ cúc phương khai
    Chính sắc khi quần phổ
    Kì hương yếm chúng tài
    Tự phi chủ ý hảo
    An đắc vãn hoa lai
    Mạc vị tái phong lãnh
    Tầm phương phụ thử hồi.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    2

    HỌA NGUYÊN VẦN BÀI VỊNH CÚC
    CỦA TUẦN VŨ LẠNG SƠN HỌ ĐẶNG

    Mai chửa báo sơ xuân
    Cúc đã nở ngoài giậu
    Sắc thắm khinh muôn hoa
    Hương thơm hơn mọi thức
    Nếu không có ý tốt
    Sao được hoa muộn màng
    Chớ bảo gió biên lạnh
    Phụ lòng, mà kiếm hương.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    2

    HỌA NGUYÊN VẦN BÀI “VỊNH CÚC”
    CỦA TUẦN VŨ LẠNG SƠN HỌ ĐẶNG (1)

    Hoa mai chưa báo tiết tiểu xuân (2)
    Dưới hàng giậu, hoa cúc vừa mới nở
    Sắc đẹp đích thực
    [khiến] mọi sách phổ [chép về hoa] dối lòng (3)
    Mùi hương lạ lùng
    [làm] mọi chồi non [:tài năng trẻ] (4) nản [chí]
    Bởi không [có] ý chuyên tốt lành (hoặc: chủ ý xong xuôi)
    Sao được hoa [nở] muộn về sau (/ : đến [thăm]) [như thế]?
    [Xin] chớ bảo gió biên ải lạnh lùng
    [Mà] tìm danh thơm (5), [lại] phụ rẫy sự trở về này
    [của cúc].

    (1) Đặng Toán (căn cứ vào: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên, Viện Sử học dịch, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971, tập 31, tr. 235, 287; và Đại Nam liệt truyện, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hóa, 1993, tập 4, tr. 294).

    (2) Tiết tiểu xuân: tiết trời vào khoảng tháng mười âm lịch hằng năm.

    (3) Nguyên văn: “khi” (dối lòng mình; lấn áp). Tất cả loại sách phổ (niên phổ, chủng phổ; ở đây là hoa phổ [: chép về phả hệ các loài hoa]) đều biểu hiện sự dối lòng trước một loại hoa đẹp, đẹp một cách đích thực, bằng sự hờn ghen, vô lễ. Trong tiếng Việt có các từ: khinh khi, khi dể, khi quân; trong đó, từ tố “khi” có các sắc thái ngữ nghĩa hơi khác nhau.

    Cũng như câu thứ tư, câu này được sử dụng thủ pháp đảo trang (đảo ngữ): vị ngữ (“khi”, “yếm”) đứng trước chủ ngữ (“quần phổ”, “chúng tài”).

    (4) Nguyên văn: “tài” (trồng trỉa; chồi non). Hiểu như một ẩn dụ toàn bài (trường dụ): Cái tài năng của hoa (người tài) chính là mùi hương (giá trị tinh thần, trí tuệ) cống hiến cho đời. Xem chú thích (5): “vãn tiết hoàng hoa”.

    (5) Phương: danh thơm; mùi thơm. Tạm dịch: mùi trầm, khói trầm. Các quan ngày xưa thường đốt trầm tiếp khách quý hoặc để làm thơ, ngâm thơ, cũng có thể đốt chút trầm trong lồng ấp, sưởi cho ấm cúng khi trời rét. Với nhà thơ Nguyễn Văn Tường, hoa cúc nở muộn vào tháng mười, sắc vàng màu nắng, màu thật của cúc, cũng sưởi ấm mắt nhìn người lính ở biên phòng.

    “Tầm phương”, nghĩa bóng còn là: “đi tìm tình nhân; thăm chỗ phong cảnh đẹp” (TĐHV., sđd., quyển hạ, tr. 246).

    Ngoài hai nghĩa trên, hoa cúc nở vào tiết mùa đông còn là biểu tượng chỉ tiết tháo người quân tử thời loạn (TĐHV. sđd., tập hạ, tr. 536): “vãn tiết hoàng hoa”. Xin xem chú thích (2), bản dịch nghĩa bài thơ số 24.

    2

    “NGỢI CA HOA CÚC”

    Họa thơ Đặng Toán

    Xuân non mai hứa báo
    Bừng cúc dưới chân thành
    Sắc, hờn muôn sách đỏ (1)
    Hương, nản vạn chồi xanh
    Không lòng chuyên tốt giữ (2)
    Được cúc muộn xinh dành? (2)
    Chớ bảo gió biên rét
    Phụ hoa về, dạo quanh!


    (bản biên soạn 2/1)

    Xuân chớm, nhựa mai hứa báo
    Cúc vừa nở dưới giậu xanh
    Thật sắc, khiến hờn hoa phả
    Lạ hương, làm nản thảo danh
    Không vì ý lành giữ ngọc (2)
    Được sao cúc muộn lưu cành? (2)
    Đừng bảo gió biên ải lạnh
    Mặc hoa, trầm cứ kiếm quanh!


    (bản biên soạn 2/2)

    (1) Chữ “phổ” (phả); hiểu linh hoạt (tất nhiên không đúng nguyên văn): loại sách đỏ, viết về các loại động thực vật quý hiếm, cần được bảo vệ. “Sách đỏ” đối với “chồi xanh”. Ở bản 2/2 (lục ngôn biến thể), “hoa phả” sẽ được đối với “thảo danh” (: tên hoặc danh vị các loài hoa).

    (2) “Tự”: bởi (đối với “an”: tại sao); không thể dịch là mình, tự thân. Giả định là “mình”, đại từ ngôi thứ nhất, được dùng như ngôi thứ hai để tỏ sự thân tình, xem bạn như mình: “Ý lành, mình không cốt, Hoa muộn, ấy sao thăm? Gió ải đừng than lạnh; Phụ hoa, lại kiếm trầm!”.

    “Về sau” được thay bằng ý niệm “để dành”. Từ đó, có các cặp tiểu đối: “tốt giữ – xinh dành”; “giữ ngọc – lưu cành”.


    Bài 3

    SƯ THỨ CAO BẰNG


    Bắc vọng quần sơn sơn chính cao
    Thiên tương sơn thế tác ba đào
    Địa liên Thanh giới phân đình chướng
    Dân tạp Man Nùng đới kiếm đao
    Phụ hiểm Mạc gia dư thổ lũy
    Yết kì Trình thị xướng nhân hào
    Tam Trung tinh sảng kim an tại?
    Sơn sắc tuyền thanh nguyệt hạ xao.

    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    3

    ĐÓNG QUÂN Ở CAO BẰNG

    Trông phía Bắc, chồng chất núi cao
    Trời nhân thế núi dấy ba đào
    Đất liền Trung Quốc chia ngăn trở
    Dân lẫn Mán Nùng vác kiếm đao
    Hiểm yếu tăng thêm là lũy Mạc
    Dựng cờ kêu gọi ấy Trình hào
    Tam Trung linh khí nay còn mất?
    Tiếng suối màu non bóng nguyệt xao.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ



    3

    ĐOÀN QUÂN CAO BẰNG (1)

    [Xứ] Bắc ngẩng trông [các] cụm núi; núi sắp đặt
    lại tầm cao
    Trời định làm thế núi nổi sóng [như sóng biển] (1)
    Đất [ấy] liền [với] biên giới nước Thanh (2),
    [cùng] chia ra rào cản (bình phong) (3), nhà trạm
    Dân [ở đó], [người] Thượng (4) [ở] lẫn [với]
    [người] Nùng (5), [đều] đội kiếm đao (4) (5)
    Cậy vào [thế] hiểm yếu, nhà Mạc (6) thừa thãi [hoặc: trơ ra]
    lũy [đắp bằng] đất
    Mở giăng [ngọn] cờ, [những người] họ Trình (7)
    kêu gọi tài sức [của] con người
    [Sự] trong sáng tinh thần [của] Tam Trung (8),
    nay còn chăng?
    Màu núi, tiếng suối, dưới trăng, xao xuyến.

    (1) Cao Bằng là tên gọi của một vùng đất ở biên giới phía bắc nước ta, từ thời Tây Sơn, thời Nguyễn. Trước đó gọi là Cao Bình. “Bình” hay “Bằng” đều cùng một nghĩa, một mặt chữ Hán. Hai câu đề của bài thơ thể hiện sự cấu tứ từ địa danh. Đó là vùng đất bằng dậy sóng, núi cần phải cao hơn để chặn giặc Tàu, nhưng cũng vì thế nên nhà Mạc có nơi nương náu lúc suy vi, và lắm phỉ.

    (2) Nước Thanh: Trung Quốc thời nhà Thanh có quốc hiệu là Đại Thanh.

    (3) Đường ranh giới thời Nguyễn có rào gỗ hoặc lấy sống núi làm mốc. Có một ngọn núi như bức bình phong, gọi là núi Bình Phong.

    (4), (5) Số người miền xuôi (Kinh, còn gọi là Nam) trung thành với nhà Mạc sau khi bị họ Trịnh (phù Lê) đánh bại. Những người Kinh này dần dà đã Tày, Nùng hóa (“Kinh già hóa Thổ”) [xem Trần Quốc Vượng, Việt Nam, cái nhìn địa văn hóa, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1998, tr. 23]. Nhưng đó chỉ là một bộ phận, còn phần lớn người Kinh định cư ở đó qua nhiều thời kì khác nhau, kể từ thời cổ đại.

    Chữ “man” Nguyễn Văn Tường sử dụng ở đây là theo ước lệ ngôn ngữ của thời đại ông. Ông cũng gọi bọn giặc Cờ là “man rợ”, mặc dù giặc Cờ là tàn dư Thái Bình Thiên Quốc (ở Trung Hoa, 1850 - 1864; xem Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, in lần thứ ba tại ấn quán Hồng Phát, Chợ Lớn, 1958, tr. 363-368). Giặc Cờ hầu hết là người Hán, phù Hán tộc, chống nhà Thanh. Ông cũng gọi người Pháp (Phú Lãng Sa) là “bọn mọi rợ”, xét về bản chất thực dân của chúng và phong tục của người Phương Tây (phong tục Phương Tây theo mắt nhìn Việt Nam hồi đó là dã man). Nguyễn Văn Tường không có tư tưởng miệt thị dân tộc, nhân tộc, mà trái lại, như tác giả Hạnh Thục ca (Nguyễn Nhược thị Bích) đã ghi nhận:

    “Nhưng người lấy đức rộng bao
    Tín thành cảm đến Mọi, Lào mến ân...”

    (Hạnh Thục ca, sđd, tr. 16)

    Tác giả bài ca trên cho rằng, chính nhờ lòng yêu mến, trân trọng các nhân tộc ít người ở nước ta và ở nước láng giềng mà khâm sai đại thần Nguyễn Văn Tường đã chiến thắng giặc Pháp trên mặt trận ngoại giao, 1874, và sau đó, đã cảm hóa được khâm sứ Pháp Philastre, khi Nguyễn Văn Tường đã là Kì Vĩ bá [xem Delvaux, Ngoại vụ Paris tại Việt Nam, “Phái bộ Pháp ở Huế và những phái viên đầu tiên”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH., 1916), tập 3, sđd., tr. 32, 36 - 37]. Không những “sài lang” Pháp phải “thói dữ chút răn, đất thành giao lại, quan quân tha về”, mà còn tự “dẹp thói lung lăng” (HTC., sđd., tr. 16) của chúng. Philastre đã “đầu hàng”, “phản bội” Puginier, Rheinart, bọn thực dân quyết tâm xâm lược Bắc Kì và một bộ phận dân Bắc Kì theo Pháp, tả đạo (Tsuboi, NĐNĐDVPVTH., sđd., tr. 117 và 237 - 238), lại “chịu ảnh hưởng”, tâm phục Nguyễn Văn Tường (Delvaux, bài viết trên, sđd., tập 3, tr. 36 - 37). Sự tâm phục đó là sự tâm cảm ý thức bình đẳng nhân tộc.

    (6) Nhà Mạc: triều đại do Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê dựng nên; về sau trở thành Bắc triều, chống cự với Nam triều của nhà Hậu Lê trung hưng do Trịnh Kiểm tôn phù. Nhà Mạc còn tồn tại ở đất Cao Bằng khá lâu, sau khi đã bị họ Trịnh quét sạch ở miền xuôi và ở các tỉnh miền núi khác, từ 1592 (tồn tại ở đấy thêm 96 năm).

    (7) Họ Trình: chắc chắn không phải là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người góp ý cho nhà Mạc về việc chọn Cao Bằng làm nơi nương náu khi đã suy vong. “Trình” chỉ là mĩ hiệu (Trình [quốc công]). Họ Trình ở đây là Trình Văn Châu, Trình Văn Quang thời Minh Mạng có công dẹp phỉ. Trình Văn Châu với 36 xã thôn và nhiều người cùng có công khác được ban biển ngạch “Hiếu nghĩa tri phương” (hiếu nghĩa, danh thơm được biết đến). Trình Văn Quang được thờ ở đền Trung Nghĩa.

    (8) Tam Trung: đền Tam Trung (“Tam Trung từ”) ở xã Gia Cung, huyện Thạch An, Cao Bằng, thời Nguyễn, thờ 3 liệt sĩ giữ thành, tử tiết do bị bè đảng của Nông Văn Vân ở Tuyên Quang vây đánh – Nông Văn Vân và Lê Văn Khôi ở Gia Định (Nam Kì) có liên can với nhau, trong việc nổi loạn, thời Minh Mạng. “Tam Trung” là Nguyễn Huy Tăng (bố chính sứ), Phạm Đình Trạc (án sát sứ), Phạm Văn Lưu (lãnh binh).

    [Xem thêm: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC.), tập 4, Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr. 401 - 430, về các chú thích trên].

    3

    ĐOÀN QUÂN CAO BẰNG

    Ngàn núi Bắc trông, núi thẳng (1) cao
    Trời toan: thế núi sóng vươn gào!
    Đất liền Thanh ải, chia rào trạm
    Dân lẫn Di Nùng đội kiếm đao
    Cậy bẫy, Mạc tan, trơ lũy đất
    Giăng cờ, Trình gọi, lắm anh hào
    Tam Trung tâm sáng nay đâu nhỉ?
    Tiếng suối màu non dưới nguyệt xao!


    (bản biên soạn)

    (1) Nguyên văn: “sơn chính cao”. Nếu chữ “chính” là động từ (làm vị từ cho cụm chủ – vị này), xin tạm dịch như ở bản dịch nghĩa. Bản dịch thơ này tạm xem như tính từ, không phải với nghĩa ngược với “phụ” (chính sơn), mà với nghĩa “[núi] ngay thẳng [cao vút]”. Có thể đây là một bài thơ chân cảm và dự cảm, với Phạm Thận Duật (nếu Phạm Thận Duật lấy hiệu Vọng Sơn từ núi Khâu Sầm, vốn là vọng sơn của tỉnh, một trong bốn quả núi được xem là “tứ trụ”; xem ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 409 – 410 (*)), lúc cả hai người đang ở đất Bắc vào những năm cuối thập niên sáu mươi, đầu thập niên bảy mươi, thế kỉ XIX. Có thể với Nguyễn Văn Tường, đây là một địa thế kháng chiến rất tốt. Ông đã từng quan tâm đến kinh nghiệm chiến đấu ở địa bàn miền núi của các đầu mục giặc (phỉ) Cao Bằng (vì không trung thành với nhà Lê) từ lúc chưa hề ra Cao Bằng, còn ở Thành Hóa (Cam Lộ), Quảng Trị để xây dựng thượng đạo nối liền từ Bình Định ra đến Nghệ An; từng đệ tấu xin vua Tự Đức đưa đầu mục phỉ Cao Bằng vào Thành Hóa (Cam Lộ), (xem ĐNNTC., sđd., tập 31, tr. 86 - 89, 103 - 104), để trực tiếp học tập kinh nghiệm và để cải tạo, sử dụng các đầu mục ấy. Tuy chỉ là suy diễn từ bài thơ này, nhưng người đọc cũng có thể hình dung tầm nhìn chiến lược của Nguyễn Văn Tường về các địa bàn miền núi của nước ta trong phương án kháng chiến chống Pháp và tiễu phỉ (giặc Cờ...), từ những năm ấy (1868 - 1873), kể cả quan điểm về công tác cải tạo, sử dụng đối tượng phạm nhân vốn là phỉ...

    Nhưng đó chỉ là suy diễn mở rộng, đào sâu .

    “Sơn chính cao” chỉ là núi cao thẳng đứng, một chi tiết để miêu tả, biểu đạt cảm nghĩ về non nước, lịch sử Cao Bằng yêu mến của tâm hồn Nguyễn Văn Tường, với niềm bâng khuâng về “tâm sáng Tam Trung”, hình ảnh cụ thể của một tiêu chí tư tưởng chính trị, lí tưởng thẩm mĩ ở ông, khi còn là quan tán lí quân vụ - nhà thơ (mãi cho đến lúc trở thành Kì Vĩ phụ chánh đại thần bị lưu đày và mất ở Tahiti).


    Cước chú của bài thơ số 3, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*) Ở tỉnh Ninh Bình cũng có một ngọn núi được xem là vọng sơn, nên hai chữ Vọng Sơn còn là danh từ riêng thứ hai của ngọn núi ấy.

    Bài 4

    SƯ THỨ HÀ DƯƠNG


    Man yên lộ nhập cổ thanh trầm
    Thùy trịch thiên kim mãi đấu tâm
    Sơn bất dung phan duyên yếm tục
    Thủy đa bôn hạ hảo (hiếu) vi thâm
    Triêu lam bán tạp thanh vân khí
    Tà nhật vi khai lục thọ (thụ) âm
    Hồi thủ Hà Dương chinh chiến địa
    Phi trần tận nhật ám hoang lâm.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    4

    ĐÓNG QUÂN Ở HÀ DƯƠNG

    Trống dồn, khói Mán tỏa đường lau
    Ngàn lạng ai mua lòng giết nhau
    Núi chẳng cho vin vì chán tục
    Nước thì đổ xuống bởi ưa sâu
    Che mờ sương sớm mây trong trẻo
    Hé lọt nắng chiều bóng lá thâu
    Ngoái lại Hà Dương vùng chiến địa
    Bụi bay mờ mịt phủ rừng sâu.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ



    4

    ĐOÀN QUÂN HÀ DƯƠNG (1)

    [Trên] đường vào, khói [bếp] người Thượng,
    tiếng trống ẩm trầm
    Ai quẳng ra (2) ngàn vàng, mua lòng giao tranh
    [của bọn phỉ] (2)
    [Núi] chẳng tiếp nhận (dung chứa) sự vin (leo)
    [núi], [gợi nên] cái liên cảm chán ngán
    thế tục [của vùng cao]
    Nước đổ xuống nhiều (thường xuyên), [tạo
    thành] sự tốt đẹp làm nên [nét] thẳm sâu
    ở nơi đầu nguồn]
    Sương sớm lưng chừng, lẫn [với] hơi mây trong trẻo
    Nắng chiều khẽ (hé) mở [những] bóng cây xanh sẫm
    Ngoảnh đầu lại: Hà Dương [là] vùng đất chiến trường
    Bụi bay suốt ngày [ở bãi quần thảo],
    làm ảm đạm [cả] rừng hoang!

    (1) Hà Dương (địa danh), thuộc tỉnh Tuyên Quang (ĐNTL.CB., tập 31, tr. 98, 338, 383 - 385; tập 32, tr. 29, 214).

    (2) Đoàn “du thám” Jean Dupuis (Đồ Phổ Nghĩa). Jean Dupuis vốn được phủ súy Pháp ở Gia Định và Puginier tài trợ, cho vay vốn để buôn súng đạn, cung cấp cho bọn phỉ “giặc Cờ” nhằm gây rối ở phía Bắc nưóc ta, kể cả việc mua chuộc chúng bằng tiền với mục đích ấy [xem ĐNTL.CB., tập 32, tr. 253 - 255, 272...; đặc biệt, xem Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, UB. Khoa học Xã hội Thành ủy TP. HCM. xuất bản, 1990 (bản dịch do Nguyễn Đình Đầu chủ biên), tr. 76 - 77, 86 - 93...] (*).

    4

    ĐOÀN QUÂN HÀ DƯƠNG

    Đường vào, khói Thượng, trống trầm sâu
    Ai ném vàng, mua lòng bắn nhau?
    Núi cấm giặc leo, quen (1), ghét xấu (1)
    Tâm tuôn thác đổ, tốt, nên sâu (2)
    Ố nhem sương sớm, mây rờn biếc
    Hé lọt nắng chiều (3) lá rợn màu (3)
    Ngoảnh lại Hà Dương, vùng trận mạc
    Suốt ngày bay bụi: rừng hoang nâu!


    (bản biên soạn)

    (1) Quen: quan hệ, mối liên hệ, giao tiếp (nhân duyên, tình duyên). Cũng có thể hiểu, sự giao tiếp được tác giả nhân hóa, cho rằng tự nó cũng có phản ứng chán ngán thói xấu mua chuộc (thủ đoạn của Jean Dupuis, Puginier, phủ suý Pháp...).

    (2) Lòng tốt của nhân dân miền núi trong vắt như nước đầu nguồn tuôn chảy về đồng bằng, tuôn chảy mãi mãi. Lòng tốt làm nên sự bền lâu, sâu đậm (thâm giao, hảo hiệp, giao hảo).

    (3) Hai câu luận là một bức tranh lụa treo gần một bức sơn mài, vẽ phong cảnh miền núi cao bằng ngôn từ. Đó là hai bức tranh thiên nhiên, thanh thoát tiếp liền hoe hoắc, của sớm mai bảng lảng mây sương, chiều hôm rực nắng quái với ánh mặt trời úa tàn (“tà nhật”: ác tà) xuyên lọt qua bóng cây liền nhau, liên thâu (“duyên thụ âm”) hoặc có màu xanh lá (“lục thụ âm”) (**), đã bị súng gươm, vó ngựa làm nhuốm bụi (“tạp”), rờn rợn âm khí (“khí”, “âm”). Nhà thơ Nguyễn Văn Tường đã “luận” về chiến tranh, nỗi khổ Hà Dương bằng hình tượng thơ ca.

    Cũng như hai câu thực, hai câu luận này được (bị?) dịch thoát cho rõ ý.


    Cước chú của bài thơ số 4, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*) Xin lưu ý: Về cách phiên âm tên nhân vật, bản dịch cuốn sách trên có lẽ căn cứ vào âm đọc chữ Hán của người Nhật qua chữ Pháp hay có sự nhầm lẫn thế nào đấy trong nguyên bản. Vì vậy, cho nên có khác với cách phiên âm của ĐNTL.CB. (bản dịch VSH.), chẳng hạn Từ Diên Húc, Vũ Trọng Bình lại thành Từ Đình Húc, Vũ Trung Bình v.v... Nhưng lại có một sự sai biệt khác nữa, như Vũ Trọng Bình ở ĐNTL.CB. lại thành Võ Trọng Bình ở QTCBTY.. Cũng như vậy, Lê Tuấn lại thành Lê Toán. Và ngay trong QTCBTY., Lâm Hoành ở đoạn này thành Lâm Hoằng ở đoạn khác! Nguyên nhân chính là do một chữ Hán có thể có nhiều cách đọc khác nhau (“Vũ” = “Võ”), thậm chí có trường hợp cùng một mặt chữ nhưng tuỳ theo cách đọc mà có nghĩa khác nhau (như “Trung” [:giữa] và “Trọng” [:nặng]). Nbs. đành đối chiếu và mở ngoặc đơn.

    (**) Theo mặt chữ chép tay, “duyên thọ âm” có dạng nét như “lục thọ âm” (bóng của cây xanh). “Lục” đối với “thanh”.

    Bài 5

    CHU HÀNH TÚC VỊ XUYÊN

    Triêu phát Tuyên Quang thành
    Mộ lai Vị Xuyên trạm
    Thọ cao thiên tế vân
    Thạch chướng lưu trung hạm
    Thân bất từ gian lao
    Tích tiện vong kha khảm
    Giang sơn nhược hữu linh
    Kinh cức hà dung tạp.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    5

    ĐI THUYỀN NGỦ ĐÊM Ở VỊ XUYÊN

    Sớm giã từ thành Tuyên
    Vị Xuyên, trạm chiều tới
    Cây nâng mây ven trời
    Đá chắn thuyền trên suối
    Thân chẳng nề gian lao
    Gập ghềnh thôi quên tuốt
    Non sông mà linh thiêng
    Sao chứa được gai góc?


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    5

    ĐI THUYỀN NGỦ ĐÊM Ở VỊ XUYÊN (1)

    [Lúc] sáng sớm, khởi hành [từ] thành Tuyên Quang (2)
    Buổi chiều, đến trạm (3) Vị Xuyên
    Cây nâng cao mây ven trời
    Đá cản [chậm] thuyền giữa dòng [sông]
    Thân xác chẳng từ chối nỗi khó nhọc
    Dấu vết [chân đi] dễ thường quên bẵng [bởi] sự gập ghềnh
    Non sông nếu có linh thiêng
    Gai góc sao dung chứa [bọn phỉ / một cách] tạp nham?

    (1) Vị Xuyên (tên huyện), thuộc tỉnh Tuyên Quang (ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 339 - 340, 343).

    (2) Thành lũy Tuyên Quang, thuộc tỉnh Tuyên Quang ngày nay (ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 342).

    (3) Dọc đường thiên lí, triều đình cho xây dựng nhiều nhà trạm. Trạm này cách trạm kia vài dặm đường. Ở mỗi nhà trạm luôn có một đội lính trạm, phu trạm với đủ các phương tiện giao thông, bưu chính như ngưạ, võng, và có cả chỗ nghỉ ngơi qua đêm.

    5

    ĐI THUYỀN NGỦ ĐÊM Ở VỊ XUYÊN

    Sớm đi từ thành Tuyên
    Tới Vị Xuyên chiều tắt
    Cây nhấc mây ven trời
    Đá ngăn thuyền giữa thác
    Nhọc, thân lính chẳng từ
    Chênh, dấu chân đành mất
    Sông núi nếu thần thiêng
    Cỏ gai sao chứa giặc?!


    (bản biên soạn)

    Bài 6

    HỌA SƠN PHIÊN VÕ TỐNG NGƯ HÀM
    NGUYÊN VẬN


    Tâm tồn quỳ hoắc hướng xuân dương
    Bất quản gian tân cửu bị thường
    Dục đắc diêm mai điều đỉnh nại
    Tầm thường an vấn giới nhi khương?


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    6

    HỌA NGUYÊN VẦN BÀI MUỐI CÁ
    CỦA TUẦN VŨ SƠN TÂY HỌ VÕ (VŨ)

    Lòng như quỳ, hoắc ngóng vầng dương
    Chẳng quản gian truân đã đủ đường
    Muốn được muối mơ trên vạc chảo
    Cải gừng, sao hỏi kiểu tầm thường!


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    6

    HỌA NGUYÊN VẦN
    BÀI “ÁP TẢI MUỐI [ƯỚP] CÁ”
    CỦA TUẦN VŨ SƠN TÂY HỌ VŨ (1)

    Tấm lòng vẫn còn [có] hoa dã quỳ, hoắc hương (2), hướng về ánh mặt trời mùa xuân
    Không ngại khó khăn, cay cực, đã lâu rồi nếm trải
    đủ [điều]
    Muốn được [là] muối, mơ [để] xào [trên] vạc chảo [ư] (3)?
    Cải như gừng [ư] (4)? Sao hỏi [một cách] tầm thường [vậy]
    (5)?

    (1) Vũ Trọng Bình (Võ Trọng Bình), (ĐNTL.CB., tập 33, sđd., tr. 270).

    (2) Dã quỳ: một loại hoa hướng dương (hoa mặt trời) nhỏ đóa, mọc hoang dại ở các triền núi, lưng đèo vùng cao nguyên. Đó là biểu tượng của kẻ sĩ Nho giáo, những người luôn tâm niệm lòng trung quân bên cạnh niềm ái quốc, ưu dân (yêu nước, lo cho dân). Hoắc hương: loại cây lá nhỏ, có vị thơm, dùng làm thuốc chữa bệnh. Đây cũng là biểu tượng cho kẻ sĩ, những người luôn canh cánh khát vọng cứu chữa cho các căn bệnh của đời (ba đối tượng của tam trung: dân, nước, vua) trong hạn chế của ý hệ Nho giáo.

    (3) ĐNNTC., tập 1, sđd., tr. 281 ghi: “Quả mai (mơ) vị chua, dùng để nêm canh; Thiên Duyệt Mệnh trong Kinh Thư nói: Như điều canh, thì người như quả mai và muối, là thế”. TĐHV., tập thượng, sđd., tr. 278: “Điều canh: nêm canh. Nghĩa bóng: làm tể tướng. Vua Cao Tôn nhà Thương cử Phó Duyệt lên làm tướng, có nói rằng: người với ta nhờ nhau nhiều lắm, ví như nêm canh, cậy ngươi làm muối với mơ”. Xin xem từ “hòa canh” ở bài thơ số 65, chú thích (11) của bản dịch nghĩa.

    (4) Gừng (cũng như quế) là loại củ (và vỏ) cay lâu, khô rồi vẫn còn cay. Nghĩa bóng: tính người kiên cường đến chết cũng không thay đổi, càng già càng kiên cường (TĐHV., tập thượng, sđd., tr. 475).

    (5) Vũ Trọng Bình là người bạn chiến đấu thân nhất của Nguyễn Văn Tường ở mặt trận biên giới phía bắc, mặc dù hàm tước Vũ Trọng Bình vốn đã rất cao (nguyên thượng thư Bộ Lại, Cơ mật viện đại thần, hiệp biện đại học sĩ). Tình bạn đó kéo dài đến những năm tháng chuẩn bị cho phong trào Cần vương trước ngày Kinh Đô Quật Khởi (23.5. Ất dậu, 1885): Vũ Trọng Bình được nhóm chủ chiến phân công chuyên chở vàng bạc vào Quảng Nam (xem ĐNTL.CB., tập 37, tr. 171 - 172 (*)). Lúc Nguyễn Văn Tường sáng tác bài này, hẳn là khi Vũ Trọng Bình đã chán ngán Triều đình trong sự lũng đoạn ngấm ngầm của nhóm Trần Tiễn Thành lắm rồi. Xin xem thêm bài 23, “Gửi bang biện quân vụ họ Vũ”, và cả chú thích (1) của bản dịch nghĩa bài đó.

    6

    “ÁP TẢI MUỐI ƯỚP CÁ”

    Họa thơ Vũ Trọng Bình
    (Võ Trọng Bình)

    Quỳ dại, hoắc hương, lòng hướng dương
    Không nề cay cực, trải bao đường
    Muối, mơ muốn được (1) xào trên vạc?
    Cải giống gừng (2)? Sao hỏi quá thường!


    (bản biên soạn)


    Cước chú của bài thơ số 6, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*) Bản dịch sai lỗi chấm câu! Nbs. đã phải đối chiếu với tập 36, sđd., tr. 197 và cuối tr. 233.


    Bài 7

    HỌA SƠN HƯNG TUYÊN
    NGUYÊN ĐỐC NGUYỄN CÔNG
    TẶNG HÀNH NGUYÊN VẬN


    Trực cảm phong thanh dĩ tự tiên
    Phi nhơn hiếu ố đắc hư truyền
    Vọng phu Quách lão tam biên trọng
    Hận vãn Hàn môn nhất thức duyên
    Tá trợ tự tàm vô kế sách
    Thất cơ khước cữu cập tuần tuyên
    Lão thành ưng hữu điển hình tại
    Bất viễn Trường Sa dạ tịch tiền.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    7

    HỌA NGUYÊN VẦN
    BÀI TẶNG LÚC LÊN ĐƯỜNG
    CỦA NGUYỄN CÔNG, NGUYÊN TỔNG
    ĐỐC SƠN HƯNG TUYÊN

    Cảm nhận phong thanh là trước tiên
    Chẳng do yêu ghét mà hư truyền
    Trông chừng Quách lão biên cương nặng
    Hận muộn Hàn công mới biết duyên
    Mượn đũa thẹn thùng không kế sách
    Thất cơ chuốc lỗi việc tuần tuyên
    Già rồi nên có gương treo sẵn
    Đêm tiệc Trường Sa đã tới miền.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    7

    HỌA NGUYÊN VẦN
    BÀI “TẶNG LÚC LÊN ĐƯỜNG”
    CỦA ÔNG NGUYỄN (1), NGUYÊN TỔNG ĐỐC SƠN HƯNG TUYÊN (2)

    Trực cảm phong độ, cung cách lời ăn tiếng nói;
    vốn [lấy đó] làm [cơ sở] trước tiên
    Đâu do cái yêu, sự ghét [cũng vốn bị (được)]
    lan truyền không thật
    Ngóng [người] tin cậy được, [ông như] ông Quách (3)
    [xem] ba biên cương là trọng
    Hận [sự] muộn mằn, [tôi hệt] phái Hàn (4) [cho]
    một [lần] nhận biết (một bài văn) là duyên
    Mượn bút (4), [tôi] tự thẹn: không kế sách
    Lỡ dịp, [ông] chối lỗi: kịp [việc] tuần [phủ],
    tuyên [phủ sứ] (5)
    Già cả rồi, nên có khuôn mẫu còn lại
    Đêm [tiệc] Trường Sa (6) không xa chỗ ngồi (:chiếu ngồi) phía trước!

    (1) Nguyễn Bá Nghi (ĐNTL.CB., tập 31, tr. 330 - 331).

    (2) Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang.

    (3) Quách Phác (Tây Tấn, Trung Hoa), giỏi thuật số, mất uy tín văn học. Quách Tử Nghi: danh tướng (Đường, Trung Hoa) và Quách Ngỗi…

    Các nhân vật trở thành điển tích có họ Quách khá nhiều, như Quách Phác, Quách Tử Nghi nêu trên (TĐHV., tập hạ, sđd., tr. 148). Tuy nhiên, theo văn cảnh, với ý tưởng cụ thể của câu thơ thứ ba này, đó là “chiêu hiền đãi sĩ”, thì “Quách” phù hợp với nhân vật Quách Ngỗi hơn.

    Quách Ngỗi, người thời Chiến quốc (Trung Hoa), giữ chức tướng quốc. Vua Yên Chiêu Vương cầu hiền, hỏi kế Quách Ngỗi. Quách Ngỗi hóm hỉnh tâu bày kế “mãi cốt” (mua xương), đó là xương ngựa quý, với giá cao! Tin lạ lùng đó lan truyền, nhân gian sẽ hiểu người mua xương ngựa ấy rất chuộng ngựa quý (người tài). Trước mắt, xin vua cứ xem Quách Ngỗi như bộ xương ngựa ấy! Vua nghe theo, rất trọng đãi Quách Ngỗi. Quả nhiên, kẻ sĩ kéo nhau đến giúp rất đông. (Xem Bửu Kế, Từ điển từ ngữ tầm nguyên, sđd., tr. 513).

    Như những cây bút văn học cổ khác, Nguyễn Văn Tường chỉ sử dụng cái lõi của điển tích: “chiêu hiền đãi sĩ”, mà gạt bỏ các chi tiết phụ thuộc, bởi sự so sánh nào cũng khập khiễng (dùng điển tích là một dạng của thủ pháp ẩn dụ – so sánh ngầm).
    Xin ghi một cách khá chi tiết để rộng đường cảm thụ.

    (4) Phái Hàn: người theo phái Hàn Dũ, Hàn Thuyên.

    Mượn đũa (nói khiêm tốn), ở đây là sự viết giúp (“tá trứ”; “trợ” = “trứ”). Tác giả lấp láy trong cách dùng từ, rất tế nhị và khiêm cung, mặc dù với hàm “trứ tác”, chỉ là hàm “thư kí”, soạn thảo công văn, thư từ... (ĐNTL.CB., tập 32, tr. 61 - 63), vào năm 1870.

    Lúc này tác giả bị giáng xuống hàm trước tác (trứ tác).

    (5) Chức vụ tổng đốc có trách nhiệm và quyền hạn lãnh đạo từ hai đến ba tuần phủ (tỉnh trưởng, chủ tịch tỉnh); tuần phủ có tuyên phủ sứ giúp việc với chức năng tham mưu là chính. Ở đây, “tuần tuyên” là chỉ công việc ở các tỉnh (nói một cách khiêm tốn); theo mặt chữ ở nguyên tác: “tuần tuyên” có nghĩa là thay mặt vua, đi xem xét (tuần), giáo hóa dân (tuyên), [TĐTNTN., sđd., tr. 620; HVTĐ., sđd., tr. 266], hoặc chỉ tuyên truyền đầy đủ sắc dụ [TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 314, 320].

    (6) Trường Sa: có lẽ nhắc đến Vạn Lí Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa), ở quê hương Quảng Ngãi của Nguyễn Bá Nghi (xem Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr. 450 - 454)? Hẳn tác giả nói đến ngày sắp về hưu, mở tiệc tẩy trần, gác kiếm, ở quê nhà...

    Dải bờ biển Quảng Trị, Thừa Thiên còn gọi là Đại Trường Sa, Tiểu Trường Sa (ĐNNTC., tập 1, sđd., tr. 174). Nhà thơ nổi loạn Cao Bá Quát cũng từng qua những bãi cát trắng xóa ở Quảng Trị: “Trường Sa! Trường Sa!” (Sa hành đoản ca). Trường Sa (đất liền) trong thơ Đường (Trung Hoa) lại là nơi gần như chốn đày ải, cho dẫu được bổ nhiệm làm quan ở đấy. Đó còn là chốn khí hậu cực độc. Thơ Tư Không Thự có nhắc đến nơi này. Lưu Trường Khanh đã viết về Giả Nghị:

    “Giả Nghị thướng thư ưu Hán thất
    Trường Sa trích khứ cổ kim liên!”

    Giả Nghị dâng thơ lo nghiệp Hán
    Trường Sa thương mãi cảnh đi đày


    NGUYỄN BÍCH NGÔ
    dịch
    (Xem "Thơ Đường", tập 1,
    Nxb. Văn Học,
    1987, tr. 176, 193).

    7

    “TẶNG LÚC LÊN ĐƯỜNG”

    Họa thơ ông (1) Nguyễn Bá Nghi

    Trực cảm phong thanh là trước tiên
    Đâu do yêu ghét vốn hư truyền
    Ngóng thân (2), ông Quách, ba biên: trọng
    Hận muộn, phái Hàn, một thức (3): duyên
    Mượn bút, mình e (4): không kế sách
    Lỡ cơ, người chối: kịp tuần tuyên
    Già rồi nên có gương lưu lại
    Đêm trải Trường Sa ngỡ trước hiên.


    (bản biên soạn)

    (1) Dưới chế độ phong kiến, vấn đề tôn ti được đặt nặng, căn cứ vào hàm tước, không kể đến tuổi tác. Do đó, mặc dù đây là bản dịch thơ, chúng tôi vẫn để nguyên cách xưng hô của tác giả (“công” là ông, không phải là công tước). Ở vài bài thơ khác, mặc dù tác giả dùng chữ “trình” (sự tỏ bày của cấp dưới đối với cấp trên), nhưng căn cứ vào nội dung tình cảm thân thiết trong các bài thơ ấy, chỉ dịch là “bày tỏ”, để tránh tính chất khách sáo (như với Hoàng Tá Viêm...). Xin xem thêm về từ “đại nhân”, chú thích (2), bài 31.

    (2) Chữ “phu” (xin xem bản chữ Hán): [sự] tin cậy được; ở đây tạm dịch: “thân...” (thân quen) để đối với chữ “muộn”.

    (3) “Thức” để đối với “biên” (từ Hán – Việt). Có thể dịch:

    Ngóng thân, ông Quách, ba biên: trọng
    Hận muộn, phái Hàn, một biết: duyên.


    (4) Có thể đối chéo:

    Mượn bút, thẹn mình: không kế sách
    Lỡ cơ, người chối: kịp tuần tuyên.




    Bài 8

    HỌA SƠN PHIÊN VÕ
    TỰ ĐẠO NGUYÊN VẬN


    Đông hoàng điểm xuyết ngọc thiên chu
    Khách cửu phùng xuân tứ chuyển du
    Tuyệt tái kham liên hồng mãn dã
    Cố viên vị ổn hạc thê chu
    Mã phi Kí Bắc đa hoài xiễn (sạn)
    Kiếm bất Long Tuyền ngộ dược lư
    Mạc bả nhất ngu khinh tống đoạn
    Tô ông tằng nguyện tử tôn ngu.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    8

    HỌA NGUYÊN VĂN BÀI TỰ NHỦ
    CỦA BỐ CHÁNH SƠN TÂY HỌ VÕ

    Chúa xuân điểm xuyết ngọc nghìn cây
    Đất khách xuân về man mác thay
    Ải vắng thương chim hồng đặc đất
    Vườn xưa chưa ổn hạc đậu trai
    Ngựa đâu Kí Bắc thương chuồng cũ
    Kiếm chẳng Long Tuyền thổi bễ nay
    Chẳng bẻ cái ngu đưa vứt hết
    Đông Pha từng muốn cháu con ngây!


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    8

    HỌA NGUYÊN VẬN BÀI “TỰ NHỦ”
    CỦA BỐ CHÁNH SƠN TÂY HỌ VŨ (1)

    Vị chúa thần ở phương đông (2) tô điểm [đất trời
    bằng] ngọc [trên cỏ, quanh] ngàn gốc cây
    Khách (3) đợi chờ, [chợt] gặp mùa xuân, tâm tình
    trở nên bâng khuâng, lo nghĩ
    Ải vắng (: ải hiểm trở) [người] đành thương chim hồng [đỗ] đầy
    nơi hoang dã
    Vườn xưa, chưa ổn [cho] hạc [trắng] đậu [trên bãi,
    trên cành] ngọc trai (4)
    Ngựa không phải là Kí Bắc (5), [được] khen
    [là biết] nhớ chuồng (kho) [cũ]
    Kiếm [bị] bác bỏ là Long Tuyền (6), [vì trót] lỡ
    nhảy [vào] lò [lửa hiện nay]
    [Sao] chẳng nắm lấy [một] cái ngu giống nhau,
    khinh bỉ [mà] quẳng gãy hẳn đi (7)?
    Ông Tô (8) từng nguyện cháu con ngu dốt [bởi hiểu
    biết nhiều chỉ chuốc lấy sự khổ tâm] (9)!

    (1) Vũ Khoa (có nơi phiên âm thành Võ Khoa), (ĐNTL.CB., tập 31, sđd., tr. 346).

    (2) Đông hoàng, là chúa xuân (dịch sát nghĩa như trên).

    (3) Khách, đại từ chỉ người (chính khách, thi khách...). Đây chỉ người lính thú biên ải, hay chính là tác giả (tán lí quân vụ...).

    (4) Chim hạc đậu giữa vườn ngọc trai. Châu: ngọc trai, hạt trai (TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 156). Ngọc ở con sò trai dưới biển, do vết thương bởi cát có cạnh sắc cứa vào, tự lành mà thành (= nỗi đau, với sự nung nấu, trở thành tài năng, phẩm tiết cùng các thành quả làm đẹp cho đời). Hạc là loài chim biểu trưng cho sự cao khiết. Nỗi đau của chim hạc đậu giữa vườn cây trở thành muôn ngàn hạt ngọc trai (sương) là cách nói ghép hai ẩn dụ.

    (5) Kí Bắc: một loại ngựa nổi tiếng mến chủ.

    (6) Long Tuyền: một loại gươm quý báu.

    (7) Nguyên văn: “nhất ngu” (cái ngu dốt như nhau, cái cùng ngu dốt). Ý nói: cái ngu về kiếm thuật, binh pháp, cái ngu trong quyền lực chỉ huy (biểu trưng bằng thanh gươm) của tướng sĩ. Mặc dù tự đay nghiến với nỗi đau đời, Nguyễn Văn Tường vẫn cố giữ tinh thần trách nhiệm, khuyên bạn đừng buông thả, tung hê tất thảy.

    (8) Tô Đông Pha (Tô Thức, 1037 - 1101), thi sĩ Trung Hoa đời Tống. Ông đỗ tiến sĩ. Lúc làm quan dưới thời Tống Anh Tông, nghị luận có nhiều điều xúc phạm đến tể tướng Vương An Thạch, bị Vương đổi ra Hàng Châu. Đến đời vua Triệt Tông, ông được gọi về; làm quan lên đến chức thượng thư Bộ Binh (TĐTNTN., sđd., tr.608).

    (9) Một cách nói cay đắng nhất thời của tác giả.

    8

    “TỰ NHỦ”

    Họa thơ Vũ Khoa (Võ Khoa)

    Phương đông điểm xuyết ngọc ngàn cây
    Lính đợi gặp xuân man mác thay
    Ải vắng, đành thương chim khắp đất
    Vườn xưa, chưa ổn hạc sà trai (1)
    Ngựa đâu Kí Bắc, thương chuồng cũ
    Kiếm chẳng Long Tuyền, nhảy lửa cay!
    Đừng nắm cái ngu, khinh, ném gãy
    Ông Tô từng nguyện cháu con ngây!


    (bản biên soạn)

    (1) Tạm dịch:

    Kim cương đông điểm óng ngàn cây
    Lính đợi gặp xuân man mác thay
    Ải vắng, thương cò soi ruộng cỏ
    Vườn xưa, đau hạc nhả châu trai.



    Bài 9

    TÔ NGHỊCH PHẢN QUA
    PHỤC VÃNG LẠNG


    Mã quá xương giang duyệt kỉ tao
    Hành nhân chu tử mỗi tương trào
    Chiêu chiêu bất giải phong sương cấp
    Bộc bộc ninh vi đạo lộ lao
    Thảo thụ kinh thu nhưng điểm thúy
    Kiêu si thất cước dục mưu sào
    Cửu trùng niệm chú biên cương sự
    Chuyên khổn hà nhân ác báo thao.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    9

    GIẶC TÔ TỨ TRỞ GIÁO
    LẠI KÉO TỚI LẠNG SƠN

    Ngựa trải Xương Giang đã mấy tao
    Đi thuyền đi bộ cũng cười nhau
    Mọc mời chẳng quản phong sương gắt
    Lăn lóc thà cam đường sá lao
    Cây cỏ qua thu còn điểm biếc
    Cú diều mất chỗ muốn gây sào
    Chín tầng trăn trở yên bờ cõi
    Chuyên trách nào ai rõ giặc nào.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    9

    GIẶC TÔ (1) TRỞ GIÁO,
    LẠI KÉO ĐẾN LẠNG SƠN

    Ngựa vượt [qua sông] Xương Giang (2), [việc ấy đã]
    trải qua bao nhiêu lần
    Tên đi bộ, đứa đi thuyền chỉ [biết] cười nhạo nhau (3)
    [Nhiều bận] (4) tự chuốc lấy, không thoát khỏi gió
    sương [thổi lùa] gay gắt
    [Lắm lần] bị sai bảo (: làm đầy tớ [cho Pháp]), cam
    [đem thân] làm đường sá khổ nhọc sao (5)?
    Cây cỏ qua tiết thu vẫn tô điểm sắc xanh
    [Cái] xấc láo không chịu phục tùng, ngu cuồng
    [đã] mất chỗ ở trên núi, [còn] mưu tính
    [tạo] sào huyệt (hang ổ)
    Chín tầng (ngai vua) chú tâm, suy nghiệm việc biên giới
    Người nào chuyên trách [việc thu nhận, xét đoán]
    các thông tin [mà để] bọn [cọp] beo
    hung ác lờn mặt, thao túng [thế này]!

    (1) Tô Tứ: một đầu sỏ giặc Cờ (ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 39, 61 - 63).

    (2) Xương Giang: một con sông thuộc tỉnh Bắc Ninh (ĐNNTC., tập 4, sđd., tr.86).

    (3) Đúng như đầu đề, đây là bài thơ tác giả miêu tả: bọn giặc Cờ (bộ phận do Tô Tứ cầm đầu) lại trở giáo, từ Bắc Ninh vượt Xương Giang để lên Lạng Sơn gây sào huyệt. Nguyễn Văn Tường lúc này là tán tương quân vụ đạo quân đóng ở Lạng Sơn. Hẳn ông đang đứng ở một ngọn vọng sơn (núi quan sát) nào đấy, theo dõi bọn giặc Tô Tứ đang chuyển quân... “Nhân”, “tử” được dịch bằng từ có biểu cảm rõ, là “đứa”, để rõ chữ “nghịch” ở đầu đề và các chữ ở các câu kế tiếp (“kiêu si”, “ác báo”...).

    (4) Nguyên văn, tác giả dùng điệp từ “chiêu, chiêu”, “bộc, bộc”, ngụ ý sự lặp đi lặp lại lắm lần.

    (5) Nguyên văn có chữ “ninh” (thà [là]; sao ?). Đây là một câu hỏi. Hẳn tác giả nêu thầm câu hỏi đối với những người dân bị chúng bức hiếp hoặc cho chính chúng – bọn giặc Cờ – cam làm tôi tớ cho Charles Duval, Jean Dupuis, Puginier, cam làm kẻ lót đường cho thực dân Pháp, trong việc câu kết với tên tay sai của chúng là Pierre Tạ Văn Phụng (ĐNTL.CB., tập 30, sđd., tr. 284; tập 29, sđd., tr. 263).

    9

    GIẶC TÔ TỨ TRỞ GIÁO,
    LẠI KÉO ĐẾN LẠNG SƠN

    Ngựa vượt Xương Giang, trải mấy tao?
    Kẻ thuyền đứa bộ cũng cười nhau
    Chuốc mua, đâu thoát sương tê gắt
    Đày đoạ, thà lót đường khổ lao?
    Cây cỏ qua thu dồn điểm biếc
    Cáo diều mất huyệt muốn gây sào
    Chín tầng suy nghiệm niềm bờ cõi
    Chuyên trách là ai? Beo lộng sao!


    (bản biên soạn)



    Bài 10

    KÍ CÚC VIÊN TRƯƠNG CÔNG TỬ

    Khách cửu phương tri khứ lộ xa
    Nhung trường huống phục dị sa đà
    Phong sương tranh nại tam biên tỏa
    Kinh cức thiên hiềm sổ tuế đa
    Bột Hải hà thời năng mại kiếm
    Vũ Thành trùng bất đáo văn ca
    Kịch liên cộng địa vô giai trạng
    Mạc thác phùng thu luyến cúc hoa.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    10

    GỞI CÔNG TỬ TRƯƠNG CÚC VIÊN

    Đất khách ở lâu đường đến xa
    Lại thêm chiến trận dễ sa đà
    Gió sương giành giật biên cương khóa
    Gai góc hiềm thêm tuế nguyệt qua
    Nào thuở bán gươm bờ Bột Hải
    Chẳng còn nghe khúc Vũ Thành ca
    Quá thương đất giáp không nơi đẹp
    Thu đến đừng vin luyến cúc hoa.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ


    10

    GỬI CÔNG TỬ TRƯƠNG CÚC VIÊN (1)

    Người chiến binh (2) [đóng quân] lâu [ngày] mới
    [thấm] hiểu nỗi trông ngóng đường đến [thăm]
    Huống nữa chiến trường lại lần nữa dễ sa đà
    (vấp ngã, lan rộng, kéo dài không dứt được!)
    Gió sương sao xô giạt, tranh giật nhau, [cho] ba
    biên giới [của ba tỉnh] khóa [chặt]?
    Gai góc lệch về sự không vừa ý, [vẫn] nhiều năm
    ngợi khen!
    [Như] Bột Hải (3), thời điểm nào [người ta] có thể
    bán [quách] gươm đao [đi]?
    [Nếu] Vũ Thành (4), lần này lần khác đều giống
    nhau là không đến [để] nghe khúc hát
    [bi lụy ở đấy]
    Xót thương mạnh (: mãnh liệt): đất chung
    [ở nơi giáp ranh biên giới hai nước]
    không có hình dáng (cảnh) đẹp
    Đừng mượn [cớ (:vịn cớ)]: gặp gỡ mùa thu [nên]
    thương mến không nỡ rời bỏ hoa cúc!

    (1) Trương Quang Đản (con của quận công Trương Đăng Quế), (ĐNTL.CB., tập 32, sđd., tr. 142).

    (2) Nguyên văn: “khách” [xem chú thích (3) ở bài “Họa nguyên vần bài “Tự nhủ” của Bố chánh Sơn Tây họ Vũ”, bài số 8].

    (3) Bột Hải (biển Bột [Hải]): cảnh giới thần thoại, nơi có đảo Bồng (TĐHV., sđd., tập thượng, tr. 75).

    (4) Vũ Thành, chưa rõ ở đâu. Có lẽ là thành phố Vũ Hán ở Trung Quốc ngày nay. Cũng có thể là thành lũy Vũ Huyệt, nơi nhà thơ Lí Bạch đã từng ở. Lí Bạch đã từng chôn cất bạn bên hồ Động Đình, rồi lại bốc mộ về táng tại Võ Xương (Vũ Xương).

    10

    GỬI CÔNG TỬ TRƯƠNG CÚC VIÊN

    Thấm nỗi ngóng lâu, nẻo đến xa
    Chiến trường huống nữa dễ sa đà (1)
    Gió sương cố giật, ba đồn khóa?
    Gai góc lệch hiềm, nhiều Tết ca!
    Bột Hải, đâu thời gươm bán quách?
    Vũ Thành, không điệp, nhạc nghe qua! (2)
    Quặn thương đất giáp không miền đẹp
    Thu đến, đừng vin: mến cúc hoa.


    (bản biên soạn)

    (1) Thành ngữ dân gian: “sa đà sa (say) máu”.

    (2) Tạm dịch:
    Bột Hải, mong chăng quăng huyết kiếm?
    Vũ Thành, khỏi lặp nghe thương ca!


    Tạm hiểu: Vũ Thành là biểu tượng về một nơi chốn phải chịu đựng nỗi đau chiến tranh (“khóc bạn”, chẳng hạn), nhưng chỉ chịu đựng, với nỗi niềm âm nhạc bi lụy, bạc nhược, rên rỉ, không biết dập tắt chiến tranh một cách hùng tráng, nhân bản, tích cực, sáng suốt và nhân hậu.

    Dịch sát:

    Bột Hải, thời nào cho bán [thanh] kiếm?
    Võ Thành trùng chẳng đến nghe [bài] ca!


    hoặc: với “[cái] thời” và “[sự] điệp”:

    Bột Hải thời nào cho bán kiếm?
    Vũ Thành điệp chẳng đến nghe ca
    !


    Bài 11

    HỌA AN DŨNG HUYỆN DOÃN BÙI
    NGUYÊN VẬN


    Cuồng phân vũ báo bắc sơn biên
    Phục việt nhân xưng Triệu Lí hiền
    Bất sủy dung tài thao dữ tá
    Cố linh nan bộ thất phù điên
    Hà dương đới lệ tồn lao tích
    Vô phụ giang sơn cửu thiệp duyên
    Phương lược khả ư hình thế định
    Thâm tâm nan đắc hoạch lai tiền.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    11

    HỌA NGUYÊN VẦN THƠ CỦA
    TRI HUYỆN AN DŨNG HỌ BÙI

    Gió lùa dữ từ bắc sơn biên
    Giấu búa đời khen Triệu Lí hiền
    Chẳng liệu gỗ thường khôn chống đỡ
    Cho nên khốn bước, lỡ phò nghiêng
    Bao giờ sông núi ghi công trạng
    Chẳng phụ non sông mấy nỗi niềm
    Phương lược còn ra hình thế đặt
    Trong lòng khó hoạch định ngay liền.


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    11

    HỌA NGUYÊN VẦN THƠ CỦA
    TRI HUYỆN YÊN DŨNG (1) HỌ BÙI (2)

    Sương mù cuồng điên [thổi] tờ truyền tin có gắn
    lông chim (3) [đến] núi biên giới [phía] bắc
    Giấu cây búa hình phạt (4), người [đời] gọi Triệu, Lí (5)
    [là những người] hiền [tài]
    Không đo lường [loại] gỗ tầm thường (: tài xoàng)
    [vốn] tham lạm giao hảo với [các] tướng
    ngoại bang (hoặc tả tướng bên vua,
    hoặc bọn tả đạo) (6)
    Nên khiến [cho] khốn bước, [trót] sai lầm phò giúp
    đỉnh cao nghiêng (7)
    Bao giờ xứng đáng [cho dù] “non mài sông dải” (8) vẫn
    còn [ghi nhận, bảo tồn các] công lao, chiến tích
    Đừng phụ bạc núi sông [đã] nén chịu (chịu đựng)
    [bao nhiêu] việc liên lạc (giao dịch)
    [phải] trải qua (9)
    Phương cách, sách lược có thể tùy theo địa hình,
    tình thế [mà] định ra
    Tâm trí sâu xa khó [bề] vạch [ra] được [từ] trước
    [cho đến mãi] về sau (một cách cố định,
    bất chấp sự chuyển biến của thời và thế).

    (1) An (?) Dũng (tên huyện); ĐNNTC., tập 4, sđd., tr. 66 - 67, phiên âm là Yên Dũng, thuộc Bắc Ninh.

    (2) Chưa rõ vị tri huyện họ Bùi này là ai.

    (3) “Vũ báo”: tờ truyền tin có gắn lông vũ, biểu tượng cho việc thông tin khẩn cấp. Xem từ “vũ hịch”, TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 566.

    (4) “Phục việt”: giấu búa. Búa là vật biểu trưng cho uy quyền thi hành hình án (xem từ “phủ việt”, TĐHV., sđd., tập hạ, tr. 136). Dịch là “giấu uy”?

    (5) Có lẽ là Triệu Thị Trinh (Bà Triệu, mất năm 248, lúc mới 23t) và Lí Nam Đế (tức Lí Bôn, khởi nghĩa chống nhà Lương, Trung Hoa đô hộ, vào năm 544 - 548). Hay Triệu là Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương, từng giúp Lý Nam Đế, sau đó tiếp tục khởi nghĩa chống ách đô hộ Trung Hoa từ 549 - 571)?

    (6) Tá = tả. Lúc này tác giả đang lãnh nhận nhiệm vụ thương thuyết với các tướng nhà Thanh (ĐNTL.CB., tập 31, tr. 357, 371; tập 32, tr. 11, 30, 69 - 72).

    (7) Chỉ các tướng ở mặt trận biên giới phía bắc.

    (8) Lệ Sơn đái Hà (núi Thái Sơn chỉ còn nhỏ như viên đá mài, sông Hoàng Hà bé lại như đai áo); hoặc: đái (đới) lệ Sơn Hà, cũng với nghĩa như trên. “Núi mài sông dải” là thành ngữ từ điển tích này.

    Đó là lời thề của Hán Cao Tổ với nghĩa bóng: cho dù Trung Hoa có sự thay đổi lớn lao nào (như dâu bể) thì con cháu chư hầu vẫn muôn đời trường cửu. Lời thề ấy Hán Cao Tổ (Lưu Bang) thề trước các người được phong hầu kiến ấp (chư hầu thời phong kiến) [xem Bửu Kế, Từ điển từ ngữ tầm nguyên, Nxb. Trẻ, 2000, tr. 177 và tr. 372].

    (9) Nỗi khổ tâm của Nguyễn Văn Tường khi nhận lãnh nhiệm vụ thương thuyết với các tướng nhà Thanh (bấy giờ, trong nhân dân có lắm người nghi ngại, phẫn nộ về việc quân nước Thanh lần này kéo sang nước ta, do ám ảnh về quân nhà Minh, nhà Thanh trước đó...). Xin xem tiếp các bài thơ khác của tác giả, ghi nhận về việc thương thuyết này: bài 12 và bài 26.

    11

    HỌA NGUYÊN VẦN THƠ CỦA
    TRI HUYỆN YÊN DŨNG HỌ BÙI

    Sương cuồng, tin khẩn, Bắc đồn biên
    Giấu búa, đời khen Triệu, Lí hiền
    Chẳng liệu gỗ thường tham chạm “tả” (1)
    Nên sai chân khốn trót phù “nghiêng”
    Xứng cùng đai đá (2), còn công trạng
    Chẳng phụ non sông phải ngoại liên
    Phương lược còn tùy hình thế đặt
    Trước sau khó vạch giữa lòng riêng.


    (bản biên soạn)

    (1) Xem chú thích (6), bản dịch nghĩa bài thơ này.

    Ở đây tạm dùng hai chữ “chạm “tả””. Trong tiếng Việt có các từ ghép: chạm mặt, chạm lời, chạm ngõ, chạm súng, chạm khắc... “Gỗ” ở đây là tài năng của phái viên thương thuyết, có thể “chạm” với các nghĩa trên. Nguyễn Văn Tường đã “chạm khắc” lẫn “chạm súng...” trong thơ, tấu sớ, công văn giao thiệp... với một tài năng lớn đích thực.

    (2) Xem chú thích (8), bản dịch nghĩa bài thơ này.

    Xin dịch thoát cho để ý thơ của tác giả dễ cảm thụ:

    “Cạn sông mòn núi còn công giúp
    Lo nước thương dân chịu “ngoại” phiền”


    “Ngoại” (trong dấu nháy nháy với ý phản cảm (*)): quân nhà Thanh giúp ta tiễu phỉ nhưng cũng gây nhiễu nhương cho nhân dân.


    Cước chú của bài thơ số 11, thuộc Phần thứ III (Thi tập Nguyễn Văn Tường):

    (*) Ở các trường hợp như thế này, dấu ngoặc kép thường đọc là dấu nháy nháy, khác với các trường hợp khác vẫn đọc là ngoặc kép một cách bình thường, với ý nghĩa đúng quy tắc. Xin vui lòng lưu ý: trong cuốn sách này chỉ có một vài trường hợp là dùng dấu nháy nháy với ý phản cảm (sắc thái phản cảm đó chủ yếu do ngữ cảnh cụ thể quy định).



    Bài 12

    HỌA THANH QUỐC THÁI BÌNH PHỦ
    TỪ DIÊN HÚC NGUYÊN VẬN


    Viêm giao nhật úc trục minh diên
    Cận bách chu tinh kháp hảo thiên
    Xuất hiệp biên ngung thành hổ huyệt
    Huyền thao nhung trướng khởi long niên
    Tứ thành sô túc lao phi vãn
    Tam tải nham khê phí thiệp duyên
    Tráng du cụ tại quy nguyên lão
    Trùng đáo nan lưu Hán thú hiền.


    TRẦN ĐẠI VINH
    phiên âm

    12

    HỌA NGUYÊN VẦN
    THƠ CỦA TRI PHỦ THÁI BÌNH NƯỚC
    THANH TỪ DIÊN HÚC

    Trời nóng nước Nam giục quạ gào
    Gần trăm năm mới đẹp trời cao
    Biên cương sổ cũi thành vùng máu
    Võ trướng treo mưu, mở Tết đào
    Cỏ lúa bốn thành sờn huyệt mộ
    Ba năm khe suối phí công lao
    Mưu hay còn đó, về nguyên lão
    Đến nữa khôn lưu “hảo hớn” nào!


    TRẦN ĐẠI VINH
    dịch thơ

    12

    HỌA NGUYÊN VẦN THƠ CỦA TRI PHỦ
    THÁI BÌNH NƯỚC THANH TỪ DIÊN HÚC (1)

    Ruộng đồng (ngoại thành) nồng nực, đầm phá ngập
    nắng, [lũ] diều hâu [ăn xác người]
    liên tục gào réo
    Gần trăm vòng quay [của các] ngôi sao,
    hành tinh (2), chim muông hót gọi
    (: chúng ta xứng hợp dưới) vòm trời tốt lành
    Xảy ra sự lờn mặt, góc biên cương thành hang cọp
    Treo cao (giấu kín) phương sách chiến đấu, [nơi]
    màn trướng quân đội (nơi tướng sĩ
    bàn mưu tính kế), khởi động năm rồng
    Bốn thành lũy, cỏ khô [và] thóc gạo, [nhân dân]
    mệt khàn [với] sự thăm viếng tang chế
    gấp gáp (chôn cất vội vàng)
    Ba năm, hang núi, khe non, hao tổn [bởi các cuộc]
    giao dịch [phải] lặn lội, leo trèo
    Mưu lược mạnh mẽ [như trai trẻ] bày biện đủ đầy [mãi] còn đó;
    [khi] về [nước sẽ được trọng vọng như] nguyên lão (vị quan lão thành có ngôi cao)
    [Nếu] lại đến, [nước Nam] khó [lòng] lưu giữ [cho dù là]
    người hiền tài có đức liêm khiết “Hán tộc” (3).

    (1) Từ Diên Húc còn là tác giả “An Nam thực lục”, cuốn sách ghi chép, nghiên cứu về Việt Nam (ĐNTL.CB., tập 32, 101 - 102; tập 35, tr. 194...; NĐNĐDVP. & TH., tr. 140 - 141).]

    (2) Có lẽ tính từ năm Quang Trung đánh bại quân Thanh (1789). Hẳn tác giả vừa giao thiệp vừa ngầm nhắc lại mốc lịch sử đó? Hoặc giả, nhắc đến mối quan hệ giữa Nguyễn Ánh và Thanh triều?

    (3) Đây là một việc khá tế nhị trong ngoại giao, chính trị bởi mâu thuẫn giữa Thái Bình Thiên Quốc (tàn dư, biến tướng là bọn giặc Cờ quấy phá nước ta) với nhà Thanh còn là mâu thuẫn dân tộc (Hán tộc, Mãn tộc). Câu này còn ngầm lời cảnh cáo... Xin xem thêm chú thích (1), bản dịch nghĩa, bài số 26.

    12

    HỌA NGUYÊN VẦN THƠ CỦA
    TRI PHỦ THÁI BÌNH NƯỚC THANH
    TỪ DIÊN HÚC

    Diều cú réo hoài xứ nắng hồng
    Trăm năm chim hót đẹp trời Đông
    Góc biên, lờn mặt, thành hang cọp!
    Doanh tướng, giấu mưu, mở dịp rồng
    Thóc cỏ, bốn thành, than khàn đám
    Suối hang, ba Tết, lội tổn công
    Ở nên hùng kế, về nguyên lão
    Lại đến, khó lưu tài “Hán” ông!


    (bản biên soạn)


    _______________________

    Ghi chú:

    Tiếp theo phần 1
    (từ tr. 1 đến tr. 209 [số trang bản in vi tính]):
    Phần 2
    (từ tr. 210 đến tr. 483)

    Web. Tác phẩm Trần Xuân An --
    www.tranxuanan-writer-6
    tr. 209 – 260
    tr. 261 – 310
    tr. 311 – 361
    tr. 362 – 410
    tr. 411 – 483

    04-11 HB6